Chương I: Một số nội dung cơ bản trong chính sách thương mại dịch của WTO Chương II: Những điều chỉnh trong chính sách thương mại dịch vụ của Việt Nam khi gia nhập WTO Chương III: Một số đề xuất điều chỉnh trong chính sách thương mại dịch vụ của Việt Nam trong thời gian tới LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 LỜI CẢM ƠN Để có thể hoàn thành được khóa luận này, tôi xin bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến: Giảng viên hướng dẫn – PGS.TS Bùi Thị Lý vì những hướng dẫn tận tình, quý báu cũng như sự giúp đỡ của cô trong suốt quá trình thực hiện viết khóa luận này. Cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn tới các thầy cô giáo trường đại học Ngoại Thương Hà Nội, gia đình, bạn bè, đã hỗ trợ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian vừa qua Sinh viên Nguyễn Thị Hà Thanh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG CHÍNH SÁCH THƢƠNG MẠI DỊCH VỤ CỦA WTO 1. Vài nét về sự ra đời và cách thức hoạt động của WTO WTO là chữ viết tắt của Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization) WTO được thành lập ngày 1/1/1995, ra đời trên cơ sở kế thừa và mở rộng từ Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT). Sau chiến tranh Thế giới lần thứ II, khi mà các hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế đang diễn ra sôi nổi, do các chính sách bảo hộ quá nghiêm ngặt, các nước đã nhất trí thành lập một tổ chức thứ ba để phụ trách riêng trong lĩnh vực hợp tác kinh tế và thương mại quốc tế, gọi là ITO.
Tuy nhiên do vẫn tồn tại một số nước khác không đồng tình mà ITO không được thành lập. Mặc dù vậy, và sau vòng đàm phán thuế quan đầu tiên là 45.000 ưu đãi về thuế áp dụng giữa các bên tham gia đàm phán, 23 nước sáng lập đã cùng nhau ký hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), chính thức có hiệu lực vào 1/1948. Từ 1948 đến 1995, GATT đã có 8 vòng đàm phán, tập trung chủ yếu về thuế quan. Nhưng từ thập kỷ 70, GATT đã mở rộng diện hoạt động, đàm phán về nhiều lĩnh vực hơn, chẳng hạn về điều tiết các hàng rào phi quan thuế, quyền sở hữu trí tuệ, về thương mại dịch vụ, về thương mại hàng nông sản, hàng dệt may, các biện pháp đầu tư có liên quan tới thương mại, về cơ chế giải quyết tranh chấp.
Tuy nhiên, hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) vốn chỉ là một thỏa thuận có nội dung hạn chế và tập trung ở thương mại hàng hóa đã tỏ ra không còn thích hợp. Do đó, ngày 15/4/1994, tại Marrkesh (Maroc), các bên đã kết thúc hiệp định thành lập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) nhằm kế tục và phát triển sự nghiệp GATT. WTO chính thức được thành lập độc lập với hệ thống Liên Hợp Quốc và đi vào hoạt động từ 1/1/1995. Mặc dù WTO ra đời nhưng GATT vẫn là văn bản pháp lý quan trọng của WTO.
WTO quản lý việc thực hiện các hiệp định thương mại của WTO, cũng như cung cấp một khuôn khổ để thực thi, quản lý và điều hành việc thực hiện các hiệp định nhiều bên. WTO cũng là một diễn đàn cho các cuộc đàm phán giữa các nước thành viên về LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 những quan hệ thương mại đa biên trong khuôn khổ những quy định của WTO. Đồng thời, WTO sẽ giám sát các CSTM của các nước thành viên, giúp đỡ và đào tạo các nước đang phát triển,… Về cơ chế ra quyết định trong WTO, hầu hết các quyết định trong WTO được thông qua bằng cơ chế đồng thuận. Có nghĩa là chỉ khi không một nước nào bỏ phiếu chống thì một quyết định hay quy định mới được xem là “được thông qua”.
Do đó hầu hết các quy định, nguyên tắc hay luật lệ trong WTO đều là “hợp đồng” giữa các thành viên, tức là họ tự nguyện chấp thuận chứ không phải bị áp đặt; và WTO không phải là một thiết chế đứng trên các quốc gia thành viên. Tuy nhiên, trong các trường hợp dưới đây quyết định của WTO được thông qua theo các cơ chế bỏ phiếu đặc biệt (không áp dụng nguyên tắc đồng thuận): - Giải thích các điều khoản của các Hiệp định: Được thông qua nếu có 3/4 số phiếu ủng hộ; - Dừng tạm thời nghĩa vụ WTO cho một thành viên: Được thông qua nếu có 3/4 số phiếu ủng hộ; - Sửa đổi các Hiệp định (trừ việc sửa đổi các điều khoản về quy chế tối huệ quốc trong GATT, GATS và TRIPS): Được thông qua nếu có 2/3 số phiếu ủng hộ. Những nội dung cơ bản trong chính sách thƣơng mại dịch vụ của WTO 1. Khái niệm về dịch vụ và một số các loại hình dịch vụ 1.
Khái niệm về dịch vụ và thương mại dịch vụ Trong khuôn khổ của GATT/WTO, tại vòng đàm phán Uruguay diễn ra từ năm 1986 đến năm 1994, các nước thành viên của GATT đã thông qua Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (General Agreement on Trade in Services, viết tắt là GATS). Hiệp định được thiết lập nhằm mở rộng phạm vi điều chỉnh của hệ thống thương mại đa phương sang lĩnh vực dịch vụ chứ không điều chỉnh một mình lĩnh vực thương mại hàng hóa như trước đó. Đối với nước ta, thương mại dịch vụ là một thuật ngữ còn khá mới mẻ.Trong quan niệm hiện đại, cơ cấu kinh tế quốc dân được chia ra ba khu vực chính, đó là nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Theo Hệ thống kế toán quốc gia (SNA) thì nền kinh tế nước ta có 20 ngành cấp 1, trong đó nông nghiệp có 2 ngành LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 (nông nghiệp và thủy sản), công nghiệp có 4 ngành (công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến, sản xuất và cung cấp điện, nước và ngành xây dựng), còn dịch vụ có tới 14 ngành, có những ngành khá quen thuộc như thương mại, du lịch, vận tải, ngân hàng, thông tin liên lạc…, nhưng cũng có những ngành mới xếp vào lĩnh vực dịch vụ như giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, hoặc như hoạt động của các đoàn thể xã hội… Dịch vụ là một khái niệm rất rộng, từ việc đáp ứng nhu cầu cá nhân đến việc phục vụ cho một ngành sản xuất, là một ngành kinh tế độc lập, hiện nay đang chiếm một tỷ trọng lớn trong nền kinh tế quốc dân và không ngừng được tăng cao.
Như vậy, có thể hiểu dịch vụ là toàn bộ các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người mà sản phẩm của nó tồn tại dưới hình thái phi vật thể. Việc coi các ngành sự nghiệp như giáo dục, y tế, văn hóa…thuộc khu vực dịch vụ và được hạch toán trong hệ thống kinh tế quốc dân có thể đuợc lý giải dưới bốn góc độ: - Thứ nhất, trong nền kinh tế thị trường, mọi sản phẩm đều là hàng hóa, mọi hoạt động đều là kinh doanh, mà kinh doanh là bỏ vốn ra để thu được lợi ích nhất định. Các ngành giáo dục-đào tạo, y tế, văn hóa…muốn hoạt động được cần đầu tư vốn và kết quả mang lại là sự phát triển toàn diện của con người, lợi ích đó còn giá trị hơn nhiều so với lợi nhuận mà một nhà kinh doanh hàng hóa vật thể đem lại. Người làm giáo dục, y tế, văn hóa cũng phải biết tính toán lỗ lãi, thiệt hơn.
- Thứ hai, trong nền kinh tế thị trường, tư nhân được quyền hoạt động giáo dục, khám chữa bệnh, lập các đoàn nghệ thuật, đoàn làm phim thì mục đích không phải chủ yếu là phục vụ không công cho xã hội mà mục đích là thu lợi, trực tiếp là lợi nhuận, tức là kinh doanh, tất nhiên nếu không đạt được mục tiêu xã hội thì cũng không thể kinh doanh được. - Thứ ba, trong các ngành sự nghiệp như giáo dục, y tế, văn hóa đều có các doanh nghiệp, mà đã là doanh nghiệp tất yếu phải kinh doanh, như Công ty thiết bị trường học, Công ty dược, Nhà xuất bản… là các doanh nghiệp trực tiếp kinh doanh; còn các trường học, bệnh viện, đoàn nghệ thuật, câu lạc bộ bóng đá cũng có thể coi là doanh nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Thứ tư, những người được phục vụ nói chung đều phải trả tiền, phải tính toán thiệt hơn để thụ hưởng sự phục vụ có hiệu quả nhất. Thương mại là một ngành kinh tế độc lập mà hoạt động của nó là mua, bán hàng hóa và dịch vụ.
Luật thương mại quốc tế lại coi hoạt động đầu tư, tín dụng và chuyển giao công nghệ cũng là hoạt động thương mại.Trong ngành thương mại có ba lĩnh vực chính, đó là thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và thương mại đầu tư, trong đó thương mại dịch vụ là hoạt động mua bán các loại dịch vụ.Trong hoạt động thương mại lại có các loại hoạt động hỗ trợ như xúc tiến thương mại, dịch vụ thương mại. Dịch vụ thương mại là các dịch vụ phục vụ cho việc mua bán hàng hóa và dịch vụ, như maketing chẳng hạn. Thương mại dịch vụ có một số đặc điểm: - Thứ nhất: Dịch vụ là loại sản phẩm vô hình, không sờ mó, nhìn thấy được nhưng lại được cảm nhận qua tiêu dùng trực tiếp của khách hàng. Quá trình sản xuất và tiêu dùng sản phẩm dịch vụ diễn ra đồng thời, nhưng hiệu quả của dịch vụ đối với người tiêu dùng lại rất khác nhau.Có loại xẩy ra tức thì, nhưng có loại chỉ đem lại hiệu quả sau nhiều năm, chẳng hạn dịch vụ giáo dục phải sau 5-10 năm mới có thể đánh giá đầy đủ.
Do đó, việc đánh giá hiệu quả thương mại dịch vụ phức tạp hơn so với thương mại hàng hóa. - Thứ hai: Thương mại dịch vụ có phạm vi hoạt động rất rộng, từ dịch vụ cho tiêu dùng cá nhân đến dịch vụ sản xuất, kinh doanh, quản lý trong tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân, thu hút đông đảo người tham gia với trình độ cũng rất khác nhau, từ lao động đơn giản như giúp việc gia đình, bán các hàng lưu niệm ở khu du lịch đến lao động chất xám có trình độ cao như các chuyên gia tư vấn, chuyên gia giáo dục…, do đó đây là một lĩnh vực có nhiều cơ hội phát triển và tạo được nhiều công ăn việc làm, rất có ý nghĩa về kinh tế – xã hội ở nước ta hiện nay.