MỞ ĐẦU 1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI TP Pleiku là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá – xã hội của tỉnh Gia Lai. Với diện tích tự nhiên 260,5 km2. dân số 210000 người chưa kể các lực lượng vũ trang và các cơ quan trung ương đóng trên địa bàn gần hơn 250000 người. với mật độ khoảng 850 người/km2, tỷ lệ gia tăng dân số là 2,1%.
Pleiku hiện nay là đô thị loại III, một thành phố mới được phát triển, xây dựng từ thị xã Pleiku trước đây. kết cấu hạ tầng không ngừng được nâng cấp, tốc độ đô thị hoá nhanh. Không gian đô thị ngày càng được mở rộng. Trong những năm qua mức tăng trưởng thành phố đạt 14% - 15%/năm.
Đời sống vật chất tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển đổi theo hướng phát triển công nghiệp, dịch vụ, nông lâm nghiệp, hàng hoá. Cơ cấu GDP theo ngành công nghiệp xây dựng 33,9%. Thương mại dịch vụ 60,5%.
Nông, lâm nghiệp 5,6%. Hình thành các khu công nghiệp tập trung: Hàm Rồng, Trà Bá, Biển Hồ, Chư Á. Toàn thành phố có 1531 cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Quá trình công nghiệp hoá kéo theo quá trình đô thị hoá từ năm 1996 đến năm 2003 từ 5% -7%.
Không gian đô thị ngày càng mở rộng, nhiều khu dân cư mới hình thành, thông thường ở bên cạnh khu công nghiệp mới kéo theo sự hình thành các khu dân cư mới như: Hàm Rồng, Trà Bá, Trà Đa, Biển Hồ, Chư Á. Hàng năm lượng rác thải sinh hoạt và rác thải công nghiệp của thành phố đã lên tới hàng trăm nghìn tấn. là nơi phát sinh ra nhiều chất thải rắn. Số lượng năm sau cao hơn năm trước.
Thành phần đa dạng, phức tạp. Đặc biệt là các chất thải nguy hại ngày càng đa dạng cả về số lượng lẫn chủng loại. Lượng chất thải đô thị hiện nay là 0,7/kg/ngày. lượng rác thải đô thị thường vượt quá khả năng thu gom, tập kết, xử lý an toàn.
Hiện nay công ty công trình đô thị thu gom được 58% lượng chất thải rắn đô thị trung bình hang ngày, vận chuyển được 170 m3 chất thải rắn đô thị và khu công nghiệp đang là mối đe doạ lớn đối với môi trường và sức khoẻ cộng đồng. Trong quy hoạch đô thị và khu công nghiệp chưa quan tâm thích đáng đến việc đổ thải và xử lý chất thải rắn. công nghệ xử lý chất thải rắn đơn giản lạc hậu chủ yếu bằng cách chôn lấp. Vị trí bãi chôn lấp không được lựa chọn cẩn thận trong quy hoạch, chỉ đơn thuần sử dụng điều kiện địa hình để chôn lấp rác.
Bãi chôn lấp không được xây dựng đúng kỹ thuật, do đó dẫn đến tình trạng rò rỉ thẩm thấu nước rác bẩn ra môi trường xung quanh gây ô nhiễm nước mặt về lâu dài. Quá trình sử dụng vận hành chôn lấp chất thải rắn đô thị tại các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh. Thông qua các tác động tự nhiên như mưa, nắng… Quá trình phân huỷ các chất thải đã gây nên mùi hôi, hấp dẫn sự tập trung các loại côn trùng gây bệnh và truyền nhiễm. Bãi rác thoát ra các loại 5 khí độc như H2S, SO2, CO2.
nguy cơ bãi chôn lấp trở thành nguồn tiềm tàng gây ô nhiễm suy thoái môi trường, gây áp lực rất lớn đến công tác vệ sinh môi trường đô thị. Có thể thấy hiện trạng quản lý chất thải rắn của TP Pleiku như sau: CTR sau khi thu gom được đưa về tập trung tại một bãi rác cố định ở ChưHDRông nằm ở phía nam thành phố. Với khối lượng rác thu gom khoảng 170 m3/ngày chiếm 84,5% tổng khối lượng CTR sinh hoạt thải ra. Hình thức xử lý rác ở đây là hình thức chôn lấp đơn giản.
Đào hố chôn lấp có phun hoá chất chế phẩm sinh học có diệt côn trùng và khử mùi hôi. Hàng ngày các xe chuyên tập kết chở rác về bãi, cứ hai ngày một lần máy xúc rác sẽ đẩy xuống hố sau đó phun hoá chất mỗi tuần một lần. Khi hố rác đầy (khoảng sáu tháng) sẽ san lấp và chuyển sang hố khác. Việc phân loại rác tại nguồn chưa được thực hiện.
Việc quản lý còn nhiều yếu kém vì hầu hết các bãi chứa CTR không đáp ứng được yêu cầu đổ thải về mặt vệ sinh môi trường do nước rỉ rác, ruồi nhặng và mùi hôi. Điều đó cho thấy quản lý CTR ở Gia Lai là một vấn đề hết sức bức xúc. Khối lượng rác thu gom chưa triệt để, một số ít CTR công nghiệp còn lẫn lộn trong bãi rác sinh hoạt kể cả rác thải nguy hại. Có không ít CTR được đổ bừa bãi ở các khu đất trống gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường, đe doạ sức khoẻ cộng đồng.
Trước tình hình đó, để có được cái nhìn toàn diện về hiện trạng CTR, chất thải nguy hại. Từ đó đề xuất quy hoạch, quản lý hiệu quả thì hiện nay chưa có đề tài nào đề cập. Vì vậy đề xuất biện pháp xử lý, nâng cao hiệu quả quản lý CTR trong điều kiện một tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao. Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhanh ở Gia Lai là cơ sở phục vụ công tác quy hoạch, bảo vệ môi trương bền vững.
Đây là lý do mà học viên dưới sự hướng dẫn của thầy GS. TS Lâm Minh Triết chọn đề tài “ Hiện trạng và dự báo diễn biến CTR ở TP Pleiku (Gia Lai) đến năm 2015 và đề xuất các giải pháp quản lý thích hợp” làm luận văn tốt nghiệp đại học.2 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 1.1 Những nghiên cứu ở ngoài nước Vấn đề thu gom, vận chuyển phân loại xử lý CTR và chất thải nguy hại (CTNH) cũng như những vấn đề liên quan đến quản lý nó không còn là một vấn đề mới mẻ, hiện nay có rất nhiều phương pháp xử lý, quản lý hiện đại, tiên tiến áp dụng nhiều nơi trên thế giới như: Nhật, Mỹ, Hà lan, Pháp, Canada, Anh. Các nước trên thế giới tuỳ theo tình hình kinh tế - xã hội của mỗi nước để xây dựng quy hoạch xử lý CTR, mỗi nước đều đồng thời áp dụng nhiều phương pháp khác nhau, nhìn chung tỷ lệ phần trăm lượng CTR được xử lý theo các phương pháp khác nhau có sự chênh lệch giữa các nước khác nhau, giữa các khu vực khác nhau. Các nước Châu Á thường áp dụng phương pháp thiêu đốt để xử lý CTR ngoại trừ Nhật Bản.Riêng ở Châu Âu có xu thế phát triển kỹ thuật thiêu đốt và tái chế CTR.
Xu thế chung hiện nay trên thế giới là quản lý rác thải theo thứ thự ưu tiên sau: Hướng đến việc bảo tồn và tái 6 sinh các nguồn tài nguyên dưới dạng vật chất và năng lượng thông qua các hoạt động tái sử dụng loại các chất thải, chế biến chất thải thành nguyên liệu tái sinh, thành các sản phẩm mới và năng lượng, những thứ còn lại được đưa đi chôn lấp an toàn, thiêu huỷ rác thải thô và sau đó chôn lấp những phần còn lại, chôn lấp rác thải thô ở những bãi rác hợp vệ sinh.Về kỹ thuật bảo tồn và tái sinh tài nguyên có thể tạm chia thành 3 loại: công nghệ thấp, công nghệ trung bình và công nghệ cao tuỳ theo sự gia tăng mức độ phức tạp của giải pháp thực hiện, trang thiết bị và nguồn vốn đầu tư. * Công nghệ thấp đó là việc sử dụng lại các loại vỏ hộp nước giải khát bằng cách hoàn trả lại cho nhà cung cấp, tái sử dụng nhiều lần các chai lọ bằng thuỷ tinh. Tái chế chất thải là hoạt động nhằm thu hồi lại các thành phẩm có ích trong rác mà chúng có thể sử dụng lại chế biến thành các sản phẩm mới dưới dạng vật chất hoặc năng lượng phục vụ cho sản xuất, công việc này đòi hỏi phải có quá trình phân loại để tách riêng các thành phần rác thải. Sau đó, đối với một số loại rác thải có khả năng tái sinh như: giấy, nilon, cao su, thuỷ tinh, kim loại .sẽ được thu gom và chuyển đến các cơ sở tái sinh chất thải để làm nguyên liệu đầu vào cho việc sản xuất ra các sản phẩm mới.
* Công nghệ trung bình bảo tồn và tái sinh tài nguyên. - Thiết kế sản phẩm: đó là những thay đổi đơn giản về hình dạng bao bì sản phẩm cũng có thể đưa đến bảo tồn tài nguyên. - Cắt vụn và phân loại: phần lớn những vật liệu như giấy, các vật liệu như nhôm, sắt, thép, vỏ xe. - Chế biến thành phân compost: là một vật liệu giống như chất mùn được tạo ra do quá trình ổn định sinh học hiếu khí các vật chất hữu cơ trong chất thải rắn.
Việc chế biến thành phân trộn đạt hiệu quả cao nhất khi dòng chất thải không có chứa các vật liệu vô cơ. - Thu hồi lại Methane: Mathane thường được sản sinh ra trong các bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh do sự phân huỷ yếm khí các thành phần hữu cơ có trong chất thải. Thêm vào đó để cho các khí đi vào các giếng thu và vào một hệ thống thu gom, cần phải sử dụng các thiết bị chế biến khí. * Công nghệ cao bảo tồn và tái sinh tài nguyên: đó là việc tái sử dụng CTR như là một nhiên liệu.
Tuy nhiên, một nhà máy tái sinh CTR với công nghệ cao cần phải có những tiêu chuẩn sau: - Việc tái sinh tài nguyên bằng công nghệ cao chỉ có thể đạt hiệu quả kinh tế ở những vùng đô thị lớn. - Nguồn cung cấp rác cho nhà máy chế biến phải đảm bảo tương đối, nhu cầu này có thể đảm bảo ở những vùng có dân số từ 200000 người trở lên. - Khách hàng nhận được hơi hoặc năng lượng do nhà máy sản xuất ra cần phải đặt gần đó. - Nếu khách hàng lệ thuộc vào năng lượng do nhà máy cung cấp thì phân xưởng 7 đốt rác cần phải được thiết kế sao cho có khả năng sử dụng nhiên liệu hoá thạch để đốt khi gặp khó khăn về nguồn cung cấp rác hoặc khi nhà máy không thể chế biến được rác thô do các chức năng của các thiết bị chế biến bị hạn chế.
- Cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc cung cấp rác ở nhà máy tái sinh tài nguyên cần phải lập kế hoạch dài hạn trước. - Các hệ thống mà chúng có thể dùng cả rác đô thị lẫn bùn cống sẽ có thuận lợi về mặt kinh tế hơn là các hệ thống mà chúng chỉ sử dụng rác đô thị duy nhất.