CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẦU VÀ PHÂN TÍCH CẦU 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ CẦU VÀ PHÂN TÍCH CẦU 1. Khái niệm cơ bản về cầu 1. Cầu cá nhân Theo Phan Thế Công (2014), giáo trình kinh tế học vi mô 1, NXB Thống kê: “Cầu (ký hiệu là D) là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người mua muốn mua và sẵn sàng mua tại các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định, các yếu tố khác không đổi” Ví dụ: Bác nông dân có nhu cầu mua máy cày về làm ruộng, hiện bác đã có đủ tiền để thanh toán, như vậy đã hình thành cầu về mặt hàng máy cày.
Như vậy, khi nói đến cầu tức là nhắc tới đồng thời cả hai yếu tố là khả năng mua và ý muốn sẵn sàng mua hàng hóa hay dịch vụ cụ thể đó. “Nhu cầu là những mong muốn, sở thích của người tiêu dùng, nhưng có thể không có khả năng thanh toán” (Giáo trình kinh tế học vi mô 1 (2014), NXB Thống kê, trang 50). Dù có hay không có khả năng thanh toán thì người ta vẫn có thể có nhu cầu về sản phẩm đó. Theo Ngô Đình Giao (2007), Kinh tế học vi mô, NXB Thống kê: “Cầu cá nhân là lượng hàng hóa hay dịch vụ riêng lẻ mà từng cá nhân có khả năng mua và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định và giả định các yếu tố khác không đổi”.
Một khái niệm quan trọng nữa là lượng cầu. Sự khác biệt cơ bản giữa cầu và lượng cầu chính là lượng cầu là muốn nhắc tới số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua sẵn sàng mua tại các mức giá nhất định, trong thời gian nhất định với các yếu tố khác là không đổi. Luật cầu, đường cầu Để thực hiện mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận thì chủ sở hữu hoặc nhà quản lý doanh nghiệp phải nắm rõ cầu về hàng hóa và dịch vụ mà đơn vị mình sản xuất ra. Chức năng của cầu ở đây được khẳng định là một phương thức thể hiện mối quan hệ giữa giá cả của hàng hóa dịch vụ mà công ty đưa ra với số lượng hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu dùng sẵn sàng mua ở một thời gian cụ thể.
Các nhà kinh tế học gọi mối quan hệ đó là luật cầu. 8 “Luật cầu là số lượng hàng hóa được cầu trong khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá của hàng hóa đó giảm xuống và ngược lại, giả định các yếu tố khác không đổi” (Giáo trình kinh tế học vi mô 1 (2014), NXB Thống kê, trang 51). Luật cầu được giải thích thông qua hiệu ứng thu nhập và hiệu ứng thay thế. Hiệu ứng thu nhập được hiểu là giá của hàng hóa thay đổi làm cho thu nhập thực tế của người tiêu dùng thay đổi, cầu hàng hóa thay đổi.
Hầu hết các hàng hóa đều có sự thay thế trong tiêu dùng. Giá hàng hóa này tăng thì lượng cầu về mặt hàng thay thế cũng tăng, do đó cầu về hàng hóa đó sẽ giảm đi và ngược lại khi giá hàng hóa đó giảm, cầu về hàng hóa thay thế giảm goi là hiệu ứng thay thế. Hầu hết các loại hàng hóa trên thị trường đều tuân theo luật cầu, chỉ có một số ít hàng hóa không tuân theo luật cầu, ngược với luật cầu gọi là hàng hóa Giffen. Trường hợp hiếm khi xảy ra và nó cũng ít được quan tâm trong thực tế.
Vậy làm thế nào để thể hiện lượng cầu, làm thế nào để cụ thể hóa một cách giản đơn mối quan hệ giữa giá và lượng cầu như đã thể hiện trong luật cầu. Các nhà kinh tế học đã đưa ra khái niệm đường cầu, đồng thời cũng đưa ra mô hình về hàm cầu. Hàm cầu và đường cầu Ngoài giá của bản thân hàng hóa, khi các yếu tố khác ngoài giá thay đổi cũng sẽ làm thay đổi lượng cầu cho nên ta có thể viết phương trình đường cầu tổng quát có dạng: QX = f(PX, M, PR, T, Pe, N) Trong đó: QX: lượng cầu về hàng hóa hoặc dịch vụ PX: giá của hàng hóa hoặc dịch vụ PR: giá hàng hóa liên quan M: thu nhập của người tiêu dùng N: số lượng người tiêu dùng trên thị trường Pe : giá kỳ vọng của sản phẩm trong tương lai. T: thị hiếu của người tiêu dùng Hàm cầu phổ biến được sử dụng để phân tích là hàm tuyến tính: Qd = a + bP + cPR + eT + fPe + gN Hàm cầu tuyến tính có dạng đơn giản nhất, chỉ phụ thuộc vào giá của hàng hóa đó, các yếu tố khác không đổi.
Khi đó hàm cầu có dạng: QD = a – bP (a, b≥ 0) Hoặc hàm cầu ngược: P = (a/b) – (1/b)QD Trong đó: QD là lượng cầu hàng hóa, dịch vụ P là giá hàng hóa, dịch vụ 9 a là hệ số chặn, phảm ánh khi P = 0 thì lượng cầu đạt giá trị lớn nhất là a đơn vị hàng hóa, dịch vụ. b là hệ số góc thể hiện sự phụ thuộc của lượng cầu vào giá, dấu của b là dấu âm (-) thể hiện: khi giá b thay đổi (tăng lên) một đơn vị thì lượng cầu Q D sẽ thay đổi (giảm xuống) bao nhiêu đơn vị. “Đường cầu là đường biểu diễn các mối quan hệ giữa lượng cầu và giá. Các điểm nằm trên đường cầu sẽ cho biết lượng cầu của người mua ở mức giá nhất định.
Đường cầu là một đường dốc thẳng xuống, có độ dốc âm và thể hiện theo đúng luật cầu. Theo quy ước, trục tung biểu diễn giá, trục hoành biểu diễn lượng cầu. Ví dụ: khi thu nhập của dân cư không đổi, giá của mặt hàng sữa bột giảm, cầu về mặt hàng sữa bột sẽ tăng lên, tuân thủ theo đúng luật cầu.1: Đường cầu sữa bột. P P A P1 B P2 D (đường cầu về sữa) Q1 Q2 0 Trong đó: P: giá của sữa bột Q: lượng cầu sữa bột D: đường cầu về sữa bột Đường cầu D thể hiện cầu về sữa bột của công ty sữa là đường cầu có độ dốc âm.
Tại điểm A, giá là P1, lượng cầu về sữa là Q1, khi giá giảm xuống P2, cầu về sữa bột tăng lên Q2, cầu tại điểm B 1. Cầu thị trường 10 Theo Phan Thế Công (2014), giáo trình kinh tế học vi mô 1, NXB Thống kê: “Cầu thị trường bằng tổng các mức cầu cá nhân (từ cầu cá nhân ta có thể suy ra được cầu thị trường). Đường cầu thị trường được xác định bằng cách cộng theo chiều ngang (trục hoành) các lượng cầu cá nhân tương ứng tại mỗi mức giá. Do đó độ dốc của đường cầu thị trường thường thoải hơn đường cầu cá nhân.” Đường cầu thị trường được xây dựng từ đường cầu cá nhân.
Vậy chúng ta sẽ phải xác định đường cầu của từng cá nhân người tiêu dùng. Thể hiện qua hình 1.2: - Xây dựng đường cầu cá nhân Giả sử một người tiêu dùng với một mức thu nhập cho trước, chi tiêu vào 2 loại hàng hóa là sản phẩm sữa bột dành cho trẻ em của công ty TNHH Thái Giang Sơn (X), chi tiêu vào sản phẩm sữa bột dành cho người lớn của công ty TNHH Thái Giang Sơn (Y). Ban đầu, lựa chọn tiêu dùng tối ưu là điểm E 1 là điểm tiếp xúc giữa đường U 1 và I1, tại E1 người tiêu dùng này có QA1 sản phẩm sữa bột cho trẻ em và QA2 sản phẩm sữa bột cho người lớn ở công ty TNHH Thái Giang Sơn. Song vì tác động của thị trường nước ngoài, làm cho giá sữa tăng giá, điều này làm cho ngân sách người tiêu dùng xoay vào trong từ I1 sang I2.
Ngân sách thay đổi, lúc này điểm tiêu dùng tối ưu là E 2 là giao điểm của đường U2 và I2. Tại đây người tiêu dùng phải giảm lượng sữa bột của công ty TNHH Thái Giang Sơn là cho cầu về nó giảm từ Q A1 xuống QA2. Từ đó ta xác định được đường cầu cá nhân về sữa bột dành cho trẻ em là đường D đi qua 2 điểm A và B. - Cách xây dựng đường cầu thị trường Như đã phân tích, đường cầu thị trường là tổng hợp của các đường cầu cá nhân.
Giả sử trên thị trường có 2 cá nhân tiêu dùng mặt hàng sữa bột trẻ em của công ty TNHH Thái Giang Sơn: DA, DB. Tại mức giá P1, ta có lượng cầu thị trường QTT1 = QA1 + QB1 Khi mức giá tăng từ P1 lên P2, lượng cầu của cả 2 cá nhân A và B đều giảm từ Q A1 về QA2, QB1 về QB2, kéo theo đó là sự giảm xuống của lượng cầu thị trường, lượng cầu thị trường lúc này là QTT2 = QA2 + QB2 Đường cầu thị trường được xác định qua hai điểm E(Q TT1, P1) và F(QTT2, P2) trên hình 1. Đường cầu thị trường được xác định là một đường có độ dốc âm và thoải hơn đường cầu cá nhân 1. Độ co dãn của cầu 1.
Độ co dãn của cầu theo giá “Độ co dãn của cầu theo giá là hệ số (tỷ lệ) giữa phần trăm thay đổi trong lượng cầu so với phần trăm thay đổi trong giá của hàng hóa đó” (Giáo trình kinh tế học vi mô 1 (2014), NXB Thống kê, trang 77). Nó đo lường phản ánh của lượng cầu trước sự biến 11 động của giá cả, cho biết khi giá của hàng hóa tăng 1% thì lượng cầu của hàng hóa đó giảm bao nhiêu và ngược lại. Công thức tính: D %∆Q ∆Q P EP= = x %∆ P ∆P Q Trong đó: %∆ Q là phần trăm thay đổi lượng cầu %∆ P là phần trăm thay đổi của giá hàng hóa đó Các trường hợp của độ co dãn |E DP| > 1 khi |% ∆ Qd| > |% ∆ P| => Cầu co dãn Doanh nghiệp nên giảm giá để tăng doanh thu và ngược lại khi tăng giá sẽ làm giảm doanh thu. |E DP| < 1 khi |% ∆ Qd| < |% ∆ P| => Cầu kém co dãn Doanh nghiệp nên tăng giá bán để tối đa hóa doanh thu.
|E DP| = 1 khi |% ∆ Qd| = |% ∆ P| => Cầu co dãn đơn vị Doanh nghiệp tối đa hóa doanh thu |E DP| = 0 => Cầu không co dãn |E DP| = - ∞ => Cầu hoàn toàn co dãn Việc nghiên cứu hệ số co dãn của cầu theo giá giúp cho các doanh nghiệp đưa ra được chiến lược giá phù hợp để có thể thu về doanh thu cao nhất.