Chương 1 tác giả đã nêu ra tính cấp thiết cùng lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, khoảng trống của nghiên cứu cùng đối tượng, phạm vi, đóng góp và kết cấu của đề tài. Tất cả những thông tin này sẽ giúp người đọc có một cái nhìn tổng quan cho toàn bộ nội dung của khóa luận. 12 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ SỐ GIÁ TRÊN THU NHẬP 2. Một số lý luận về hệ số giá trên thu nhập (P/E) 2.
Khái niệm hệ số giá trên thu nhập (P/E) Tỷ số P/E (viết tắt của cụm từ Price to Earning Ratio trong tiếng Anh), là tỷ số tài chính dùng để đánh giá mối liên hệ giữa giá trị thị trường của một cổ phiếu và tỷ số thu nhập trên cổ phần, hay cho biết nhà đầu tư sẵn sàng trả giá bao nhiêu cho một cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Thước đo - Cách tính: Tỷ số P/E được tính bằng cách lấy giá thị trường bình quân của cổ phiếu do doanh nghiệp phát hành trong một kỳ nhất định chia cho thu nhập bình quân trên một cổ phần mà doanh nghiệp phải trả cho nhà đầu tư trong kỳ đó. - Công thức: Trong đó: P: giá trị thị trường của một cổ phiếu E: Thu nhập bình quân trên một cổ phần (hay lợi nhuận bình quân trên một cổ phiếu – EPS) là phần lợi nhuận mà công ty phân bổ cho mỗi cổ phần thông thường đang được lưu hành trên thị trường. Ví dụ về cách tính P/E: Giả sử ta muốn tìm hệ số giá trên thu nhập của cổ phiếu CTCP Tập đoàn Hòa Phát (HPG) cuối năm 2020.
Đầu tiên, chúng ta sẽ tìm EPS (lãi cơ bản trên cổ phiếu) của công ty trên Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh.1: Lãi cơ bản trên cổ phiếu của CTCP Tập đoàn Hòa Phát 2020 Nguồn: Báo kết quả HĐKD hợp nhất năm 2020 CTCP Tập đoàn Hòa Phát Ở đây ta đang muốn tìm P/E của HPG năm 2020, vậy nhìn vào phần lãi cơ bản trên cổ phiếu ta chọn số liệu của 2020, tức EPS = 3. Tiếp theo ta đi xác định giá thị trường (P): Giá thị trường ta có thể tìm trên các website như Cafef.com hoặc stockbiz.vn, vào mục tìm kiếm lịch sử giá: Hình 1.2: Giá đóng cửa cổ phiếu HPG ngày 31/12/2020 Nguồn: Cafef.com Ở đây ta sẽ chọn mức giá đóng của của cổ phiếu vào ngày 31/12/2020 là 41.450 đồng/cổ phiếu. Bước cuối cùng ta xác định P/E của HPG ngày 31/12/2020. EPS sử dụng như một chỉ số thể hiện khả năng kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp, được tính bởi công thức: Từ công thức EPS ở trên, ta có thể tính tỷ số P/E theo công thức khác như sau: 2.
Đánh giá tỷ số P/E Theo đánh giá thông thường, chỉ số P/E sẽ thể hiện sự kì vọng của nhà đầu tư vào giá của cổ phiếu trong tương lai. - Nếu tỷ số P/E cao chứng tỏ nhà đầu tư kỳ vọng giá cổ phiếu của công ty tăng trong tương lai. - Nếu tỷ số P/E thấp chứng tỏ công ty bị định giá thấp hoặc cũng có thể do công ty kinh doanh hoạt động tốt. Tuy nhiên không phải tỷ số P/E nào cao cũng đều tốt, đặc biệt, khi tỷ số này tăng cao và liên tục trong một thời gian nhất định thì nhà đầu tư nên cẩn thận suy xét.
Theo công thức, ta thấy P/E bị ảnh hưởng bởi 2 yếu tố trực tiếp chính đó là: Thị giá của cổ phiếu (P) và thu nhập trên cổ phần (EPS). Trường hợp 1: P/E tăng do thị giá cổ phiếu tăng. Khi kỳ vọng của thị trường vào cổ phiếu quá lớn, các nhà đầu tư sẽ đổ xô vào mua cổ phiếu đó khiến cho dòng tiền đầu tư lúc này sẽ tăng lên làm cho thị giá cũng tăng theo. Tuy nhiên một số cổ phiếu không thể nào duy trì mức tăng trong một thời gian dài được, khi tăng quá cao như vậy khiến cho giá thị trường của cổ phiếu và giá trị thực có sự chênh lệch lớn.
Lúc này, nhà đầu tư cũng sẽ nhận ra và bán cổ phiếu để chốt lãi. Trường hợp 2: P/E tăng do thu nhập trên cổ phần giảm 15 Khi thu nhập trên cổ phần giảm tức là có khả năng lợi nhuận sau thuế của công ty hoặc doanh nghiệp giảm. Điều này cho thấy tình hình kinh doanh của doanh nghiệp có chiều hướng đi xuống vì làm ăn không có lãi nhiều. Khi này P/E cao sẽ không quá tốt.
Vậy khi đánh giá tỷ số P/E của một cổ phiếu ta cần: Thứ nhất, so sánh P/E giữa hiện tại và quá khứ của cổ phiếu. Bằng phương pháp này chúng ta sẽ thấy được liệu rằng cổ phiếu có đang bị định giá thấp (cao) hơn so với quá khứ hay không, từ đó tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra quyết định. Thứ hai, so sánh P/E của công ty hoặc doanh nghiệp đó với các công ty, doanh nghiệp khác cùng ngành. So sánh để đánh giá tổng quát tình hình P/E giữa các công ty, tuy nhiên cần lưu ý một số khía cạnh khi đánh giá như: thị phần công ty, cấu trúc vốn công ty, hay lợi thế cạnh tranh để có cái nhìn chính xác.
Thứ ba, đánh giá P/E dựa trên các nhân tố khác có liên quan như tốc độ tăng trưởng thu nhập, tăng trưởng lợi nhuận… 2. Tổng quan nghiên cứu Mô hình tăng trưởng của Gordon Ta xem xét mô hình định giá cổ phiếu của Gordon (1956) với mức tăng trưởng để tìm ra mối tương quan giữa tỉ số P/E và các yếu tố khác. Ta có công thức như sau: Trong đó: P: Giá cổ phiếu hiện tại D1: Cổ tức mong đợi trong năm tới Ke: Chi phí sử dụng vốn g: Mức tăng trưởng không đổi của cổ tức Chia cả 2 vế của công thức trên cho EPS kỳ vọng, ta có phương trình: Ta có: D1/E[EPS] chính là tỷ lệ thanh toán kì vọng 16 Từ công thức trên ta thấy tỉ số P/E có sự liên hệ với chính sách chi cổ tức, chi phí sử dụng vốn hay tốc độ tăng trưởng. Khi mức độ tăng trưởng của công ty càng cao thì hệ số P/E càng lớn, điều này cho thấy nếu cổ phiếu của một công ty có mức tăng trưởng dự kiến cao hơn trong tương lai thì sẽ được mua bán tại mức P/E cao hơn.
Theo công thức, khi tỷ lệ thanh toán cổ tức của công ty có mức cao hơn (với điều kiện các yếu tố khác không đổi) thì truyền tải thông tin làm hệ số P/E cao hơn. Tuy nhiên trên thực tế, hầu hết các công ty ít khi cho thấy sự tăng trưởng cổ tức liên tục và đều đặn trong chu kỳ kinh doanh. Cụ thể tại TTCK Việt Nam, giai đoạn năm 2013 – 2017, nhiều công ty, doanh nghiệp như CTCP Bất động sản và đầu tư (VRC) hay CTCP Đầu tư và Phát triển Công nghiệp Bảo Thư (BII) không thể chi trả cổ tức do các vấn đề tồn đọng như chi trả nợ vay, nợ tồn đọng từ những năm trước, khát vốn trong dự án kinh doanh hay kế hoạch kinh doanh không hoàn thành. Từ đó dẫn đến việc công ty không thể chi trả cổ tức như đã dự tính nên tỷ lệ P/E cũng sẽ phần nào bị ảnh hưởng.
Ngoài ra, ta thấy chi phí sử dụng vốn (Ke) có quan hệ tỉ lệ nghịch với hệ số P/E; Ke càng cao cho thấy công ty có mức rủi ro cao do đó chi phí sử dụng vốn lớn. Khi này, cổ phiếu phải được giao dịch tại hệ số P/E thấp hơn. Mô hình của John Y. Shiller (1988) Trong nghiên cứu của John Y.
Shiller, tác giả đã phân tích các ảnh hưởng tới chỉ số P/E bằng mô hình hồi quy sử dụng log(P/E). Ta có mô hình: ( ) [∑ ∑ ( ) ] Trong đó: Et/Pt: Chỉ số E/P tại thời điểm t rt+j: logarit của tỷ suất sinh lời giai đoạn t+j gt+j: tốc độ tăng trưởng của công ty được tính bằng log(EPS) từ giai đoạn t đến giai đoạn j 17 : thông tin về chính sách chi trả cổ tức, được tính bằng log(D/EPS) trong giai đoạn i : hệ số chiết khấu, đây là một giá trị hằng số Trong mô hình trên một lần nữa cho thấy những yếu tố như tỷ lệ chi trả cổ tức, tốc độ tăng trưởng và tỷ suất sinh lời có ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ số P/E. Mô hình này được Campbell and Shiller xây dựng vào năm 1988 phục vụ cho Time- series của một công ty hay cho một ngành cụ thể. Các nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu của Kulling Karl Johan & Lundberg Filip (2007) Bài nghiên cứu với tựa đề “Một nghiên cứu định lượng về chỉ số P/E trên thị trường chứng khoán Thụy Điển” từ năm 1998 đến 2007.
Trong nghiên cứu, tác giả sử phương pháp hồi quy cho dữ liệu theo chuỗi thời gian, kiểm tra giữ liệu chéo để loại các số liệu bất thường. Sau đó, bằng cách phân tích hồi quy đa biến. Các biến mà tác giả chọn lựa chủ yếu dựa trên nghiên cứu của Amoako-Adu and Sminth (2002) khi nghiên cứu về tỷ số P/E trên thị trường Canada và cũng đưa thêm một vài biến số mới đề kiểm tra sự tác động của chúng. Theo đó, tác giả đưa ra hai nhóm yếu tố chính tác động đến chỉ số P/E bao gồm: Yếu tố bên trong doanh nghiệp và yếu tố bên ngoài doanh nghiệp.
Trong đó, các yếu tố bên trong doanh nghiệp gồm: Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu, vốn hóa thị trường của công ty, tỷ số giá thị trường trên giá trị sổ sách. Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp gồm: Lãi suất, rủi ro thay đổi thị trường, tỷ lệ chi trả cổ tức và mức tăng trưởng của thị trường. Tiến hành phân tích hồi quy và tương quan cùng các kiểm định White cho phương sai sai số thay đổi, Durbin-Watson cho hiện tượng tương quan chuỗi và kiểm định đa cộng tuyến, kết quả chỉ ra rằng tất cả các biến đã được lựa chọn đều có ý nghĩa thống kê. Cụ thể, các biến có tác động tích cực là lãi suất, tỷ số giá thị trường trên giá sổ sách; các biến có tác động tiêu cực là tỷ lệ chi trả cổ tức, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và vốn hóa thị trường của công ty.
Ngoài ra, tác giả còn phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến P/E như thế nào trong từng nhóm ngành nghiên cứu, từ đó chỉ ra sự giống và khác nhau giữa mức độ ảnh hưởng. Thứ nhất, nhóm ngành liên quan đến phương tiện truyền thông, tài chính và công nghệp bị có quan 18 hệ ngược chiều với chính sách chi trả cổ tức. Thứ hai, nhóm ngành về chăm sóc sức khỏe, công nghệ thông tin, dịch vụ có tác động cùng chiều với vốn hóa thị trường của công ty.