CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ HỮU QUAN 1. Những vấn đề về loại hình ngôn ngữ 1. Đặc điểm loại hình ngôn ngữ đơn lập và chắp dính Trên thế giới hiện nay có khoảng trên 7. Ngôn ngữ đơn lập và ngôn ngữ chắp dính là kết quả phân loại ngôn ngữ theo loại hình.
Phân loại ngôn ngữ theo từng loại hình là cách phân loại theo cấu trúc và chức năng của chúng. Ngôn ngữ không biến hình (ngôn ngữ đơn lập) điển hình là tiếng Việt, tiếng Hán, ngôn ngữ biến hình (ngôn ngữ không đơn lập), “từ” hoạt động có biến đổi hình thái, bao gồm hai loại hình: ngôn ngữ chắp dính (tiếng Hàn, tiếng Nhật…), ngôn ngữ hòa kết (tiếng Anh, tiếng Pháp…). + Đối với ngôn ngữ đơn lập, điển hình như tiếng Việt, trật tự cú pháp thường là: chủ ngữ (S) - vị ngữ (V) - bổ ngữ (O). (1) Tôi nghe nhạc.
Bổ ngữ luôn đứng trước động từ. (2) 그녀는 이 노래를 좋아합니다. (S) (O) (V) [Geun yeon-eun/ i /no lae leul/ joh-a hab ni da] (cô ấy) (này) (bài nhạc) (thích) Cô ấy thích bài nhạc này. (3) 나는 엄마가 요리하는 음식을 좋아합니다.
(S) (O) (V) 8 [na neun / eom ma ga yo li ha neun eum sig-eul/ joh-ahabnida] (tôi) (mẹ) (nấu) (món ăn) (thích) Tôi thích món ăn (mà) mẹ tôi nấu. Trật tự từ trong tiếng Việt và tiếng Hàn Ở mỗi loại hình ngôn ngữ, vấn đề trật tự từ có vai trò quan trọng trong việc biểu hiện đặc điểm ngữ pháp. Trong “Lý thuyết trật tự từ trong cú pháp” của Lý Toàn Thắng (2004, tr.7), tác giả đã dẫn quan điểm của nhà ngữ học F.de Saussure về nguyên lí “tính hình tuyến của cái biểu hiện”: - “Vốn là vật nghe được, cái biểu hiện diễn ra trong thời gian”, “… những yếu tố của nó hiện ra lần lượt cái này tiếp theo cái kia”. - “Nguyên lý này là hiển nhiên…”, “… đó là một nguyên lý cơ bản dẫn tới vô số những hệ quả”.
“Toàn bộ cơ chế của ngôn ngữ đều do nó chi phối”. Qua ý kiến của F.de Saussure, chúng ta nhận thấy rằng cái được các nhà ngôn ngữ học nói đến về trật tự sắp sếp của các từ trong câu (ở dạng ngôn ngữ nói hay ngôn ngữ viết) thực ra chỉ là hệ quả của nguyên lí nêu trên về tuyến tính của ngôn ngữ. Đây cũng là nguyên do sâu xa của việc vì sao trật tự từ lại có vai trò quan trọng đến thế trong việc diễn đạt “cái được biểu hiện” (ở đây là những ý nghĩa ngữ pháp) (tr. Trật tự chính là sự sắp đặt có tính chất hình tuyến.
Trật tự từ thường xét đến ở phần ngữ pháp, tuy nhiên khái niệm“trật tự từ” ở trong câu cũng chưa bao quát hết và không chính xác, bởi vì: + Có thể trật tự không phải của “các từ” mà của các yếu tố cấu tạo từ (hình vị, tiếng) trong các từ ghép, ví dụ: ông cha với cha ông; cậu cháu với cháu (của) cậu. + Có thể trật tự từ trong một đơn vị tổ chức cao hơn từ là cụm từ (đoản ngữ), ví dụ: líu lo hót và hót líu lo; róc rách chảy và chảy róc rách. 9 + Cũng có thể đề cập thứ tự sắp xếp các vế câu trong một câu ghép. Ví dụ so sánh: (4) a.
Nếu trời nắng (thì) tôi sẽ đi đến thư viện. Tôi sẽ đi đến thư viện, nếu trời nắng. Bên cạnh đó, trong ngôn ngữ học hiện đại trật tự từ không chỉ xem xét ở góc độ như một phương thức biểu thị ý nghĩa ngữ pháp mà còn xét ở tầm nhìn rộng hơn: ở khía cạnh nghĩa học và dụng học. Trật tự từ trong tiếng Việt Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, không có phụ tố biến hình từ, vì vậy trật tự từ trong tiếng Việt là một phương thức ngữ pháp quan trọng.
Việc thay đổi trật tự từ kéo theo sự thay đổi vai trò cú pháp của chúng trong tổ hợp từ hay trong câu. Anh ấy mua báo sáng nay. Báo mua sáng nay anh ấy chưa đọc. Trật tự trong hai ví dụ trên có thể thay đổi cho nhau, ý nghĩa và vai trò cú pháp cũng thay đổi theo.
Trật tự từ trong tiếng Hàn Trong tiếng Việt, trật tự từ là phương tiện ngữ pháp quan trọng. Trong tiếng Hàn, ngoài các phương tiện có tính chất hình thái học thì phương tiện trật tự từ cũng có vai trò quan trọng trong việc biểu thị các mối quan hệ ngữ pháp. Trong tiếng Hàn, các tiểu từ chức năng đứng sau những từ giữ vai trò chính trong câu có thể được xem là dấu hiệu để nhận diện thành phần chủ ngữ, vị ngữ trong tiếng Hàn ở bảng 1.1 sau: 10 Tiểu từ chức năng Tiểu từ chức năng cho thành phần chủ ngữ cho thành phần bổ ngữ 이i 을 eul 가 ga 를 leul 는 neun 은 eun 께시 kkesi Bảng 1.1: Tiểu từ chức năng để nhận diện chủ ngữ và vị ngữ trong câu của tiếng Hàn Ví dụ câu tiếng Việt: Các học sinh đang làm bài tập (6) 학생들이 숙제를 합니다 [hag saeng deul-i sug jel eul hab ni da] (Các học sinh) (bài tập) (đang làm) Trong câu tiếng Việt trên, các học sinh là chủ ngữ (danh ngữ), nên đặt trước làm bài tập là vị ngữ (động ngữ). Trong vị ngữ, bài tập xác định là bổ ngữ đứng sau động từ ngoại động.
Trong câu tiếng Hàn được dịch tương đương, chủ ngữ 학생들이 (hag saeng deul-i), đứng trước vị ngữ, ngoài ra còn được biểu thị bằng 이(i). 숙제를 (sug je leul) là bổ ngữ, vì vậy nó được đặt trước động từ trung tâm trong của vị ngữ là 합니다 (hab ni da), đồng thời nó cũng được xác định thêm nhờ có tiểu từ chức năng 를 (leul). Những vấn đề về từ loại 1.1 Khái niệm từ loại Theo Đinh Văn Đức (1985) “từ loại là những lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp, được phân chia theo ý nghĩa, theo khả năng kết hợp với các từ ngữ khác trong ngữ lưu và thực hiện những chức năng ngữ pháp nhất định trong câu. Hệ thống từ loại có tính chất là cơ sở ngữ pháp một ngôn ngữ nhất định”.
23) Theo Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (1983), từ loại bao gồm những từ có nghĩa khái quát giống nhau và đặc điểm ngữ pháp giống nhau. Tôi đã viết thư. Tôi đang viết thư. Tôi đang đọc thư.
Tôi sẽ viết thư. Qua ví dụ (7) trên, có thể nhận thấy rằng các từ viết, đọc xét theo nghĩa khái quát và đặc điểm ngữ pháp, là cùng một loại. Các từ đã, đang, sẽ là cùng một loại và là một loại khác so với viết, đọc. Bản chất và hệ thống từ loại 1.
Bản chất từ loại Bản chất của từ loại là một phạm trù ngữ nghĩa - ngữ pháp. Từ loại là những lớp từ có chung bản chất ngữ pháp và nghĩa khái quát với nhau. Hệ thống từ loại tiếng Việt Trong hệ thống từ loại tiếng Việt, các nhà Việt ngữ học có hai quan điểm chia từ loại tiếng Việt thành các tập hợp: quan điểm thứ nhất chia thành thực từ, hư từ; quan điểm thứ hai chia thành thực từ, hư từ và tình thái từ. Trong luận văn này, chúng tôi theo quan điểm của nhóm tác giả Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (1983) chia hệ thống từ loại tiếng Việt thành hai nhóm cơ bản là thực từ và hư từ.
Khái niệm thực từ Từ có nghĩa thực hoặc nghĩa từ vựng về sự vật, hiện tượng, loại nghĩa mà nhờ nó có thể làm được sự liên hệ giữa từ với sự vật, hiện tượng nhất định. (Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, 1983, tr. 68) * Đặc điểm của thực từ - Về mặt ý nghĩa: Thực từ là những từ có nghĩa từ vựng là sự kết hợp sự phản ánh của người bản ngữ với nội dung phản ánh thực tại như: sách, ghế, viết, thước, nhảy, bơi, ăn, đẹp, vui, giỏi… - Về khả năng kết hợp: Thực từ có thể làm thành tố chính trong kết hợp với từ và những kết cấu ngữ pháp khác làm thành tố phụ xung quanh. (8) đang đọc sách Trong cụm từ này, động từ đọc (thực từ) làm thành tố chính, đang là hư từ (phụ từ) là bổ ngữ chỉ thời gian, danh từ sách (thực từ) là bổ ngữ chỉ đối tượng.
- Chức năng: Thực từ có thể đảm nhận vai trò là thành tố chính và thành tố phụ trong cấu tạo cụm từ và câu. (9) Giáo viên ấy đang sửa bài. Trong câu (9), giáo viên (thực từ) đóng vai trò là chủ ngữ, bài (thực từ) có vai trò là bổ ngữ, còn sửa (thực từ) là vị ngữ, ấy là từ chỉ định, đang là phụ từ chỉ thời gian. 13 - Phân loại thực từ: Hệ thống thực từ tiếng Việt gồm ba loại chủ yếu: danh từ, động từ, tính từ.
Danh từ là từ có nghĩa khái quát về sự vật. Động từ là từ có nghĩa khái quát về hoạt động trạng thái. Tính từ là từ có nghĩa khái quát về tính chất. Hai thực từ có thể kết hợp thành câu như đã nói ở trên.
Căn hộ sạch sẽ Ở ví dụ (10) thì tàu, hoa, ruộng, căn hộ là danh từ; những từ chạy, nở là động từ; từ tốt, sạch sẽ là tính từ. Khái niệm hư từ Theo ngữ pháp tiếng Việt, hư từ là: “những từ có nghĩa hư, loại nghĩa mà không thể nhờ nó làm sự liên hệ với sự vật, hiện tượng”. (Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam. 68) Vì vậy, khi nói đến nghĩa hư là nói đến vai trò ngữ pháp của hư từ.
Chúng không làm trung tâm đoản ngữ, được dùng làm yếu tố liên kết cú pháp, và là liên kết từ trong các loại hình cấu trúc ngữ pháp. * Đặc điểm: - Về ý nghĩa khái quát: Hư từ biểu thị về ý nghĩa ngữ pháp cho thực từ. (11) tàu đã khởi hành. Từ đã biểu thị nghĩa thời gian, rất biểu thị mức độ.
- Về khả năng kết hợp + Kết hợp với thực từ để diễn đạt ý nghĩa ngữ pháp kèm theo của thực từ. Nam sẽ đi học. Nam đã đi học rồi. Nam học rất tốt.
Từ sẽ, đã biểu thị ý nghĩa thời gian cho hành động đi học (thực từ), rất biểu thị ý nghĩa mức độ. Những từ sẽ, đã, rồi, rất… là phụ từ. + Dùng để kết nối với thực từ để biểu thị các kiểu quan hệ, là phương tiện để chỉ ra mối quan hệ cú pháp. (14) Xe của tôi (15) Anh đi làm thì em đi học.
Từ của trong ví dụ xe của tôi biểu thị quan hệ giữa một phụ tố và chính tố trong ngữ, còn thì biểu thị quan hệ giữa hai nòng cốt. Về phụ từ Phụ từ là từ loại thuộc tập hợp hư từ.