Tổng quan luận án
Công trình khoa học mang tiêu đề "Đối chiếu từ ngữ chỉ tay và các động từ biểu thị hoạt động của tay giữa tiếng Hán và tiếng Việt" do nghiên cứu sinh Nguyễn Hải Quỳnh Anh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Văn Khang, được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2023. Luận án thuộc ngành Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu, mã số 9.24.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong hệ thống từ vựng của mọi ngôn ngữ, nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người (BPCTN) và các hoạt động gắn liền với các bộ phận này giữ vai trò căn bản. Trong đó, "tay" là một trong những bộ phận cơ thể con người nhận biết sớm nhất, có tần suất sử dụng và phạm vi hoạt động rộng lớn. Mặc dù cấu tạo giải phẫu học của tay là tương đồng ở mọi cộng đồng người, nhưng cách phân chia các bộ phận của tay cũng như việc tri nhận và định danh các hành động của tay lại có sự khác biệt giữa các dân tộc. Sự khác biệt này dẫn đến hiện tượng bên cạnh các nét nghĩa gốc tương đương, giữa các ngôn ngữ xuất hiện nhiều điểm dị biệt ở các nét nghĩa phái sinh, phương thức chuyển nghĩa và khả năng kết hợp từ.
Theo tác giả luận án, các nghiên cứu đối chiếu từ vựng Hán - Việt trước đây đã khảo sát nhiều nhóm danh từ và động từ, nhưng đối với nhóm từ chỉ tay và động từ biểu thị hoạt động của tay, các công trình chủ yếu dừng lại ở mức độ nghiên cứu đơn lẻ hoặc chỉ đối chiếu từng mảng hẹp (như nhóm động từ đơn âm tiết trong khung từ vựng thi năng lực Hán ngữ HSK hay các ngữ cố định). Khoảng trống nghiên cứu được xác định là: chưa có công trình nào khảo sát và miêu tả một cách hệ thống, toàn diện ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ tay và các động từ biểu thị hoạt động của tay giữa tiếng Hán và tiếng Việt dựa trên lý thuyết trường nghĩa truyền thống kết hợp phân tích các nhân tố ngôn ngữ - văn hóa - xã hội.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích chính của luận án là vận dụng lý thuyết ngữ nghĩa học truyền thống để khảo sát, miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa và khả năng kết hợp của các từ chỉ tay, các bộ phận của tay cũng như các động từ biểu thị hoạt động của tay trong tiếng Hán và tiếng Việt; từ đó đối chiếu nhằm chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài; xây dựng hệ thống cơ sở lý luận phục vụ nghiên cứu.
- Miêu tả và đối chiếu từ ngữ chỉ tay và các bộ phận của tay trong tiếng Hán và tiếng Việt.
- Miêu tả và đối chiếu các động từ biểu thị hoạt động của tay trong tiếng Hán và tiếng Việt.
- Phân tích, làm rõ các nhân tố ngôn ngữ, văn hóa và xã hội chi phối sự tương đồng và khác biệt của nhóm từ ngữ này giữa hai ngôn ngữ.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ các đơn vị từ ngữ chỉ tay, các bộ phận của tay và các động từ biểu thị hoạt động của tay trong tiếng Hán và tiếng Việt.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án tiếp cận hệ thống từ ngữ này theo cách phân chia của ngôn ngữ học đồng đại (các từ ngữ đang được sử dụng trong tiếng Hán và tiếng Việt hiện đại). Riêng đối với danh từ chỉ các bộ phận của tay, luận án có tham khảo cách phân chia giải phẫu học chi trên của y học để làm căn cứ đối chứng và xác lập tiêu chí phân loại.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành tổng quan tình hình nghiên cứu về nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người và hoạt động của cơ thể theo hai bình diện lý thuyết chính: bình diện ngữ nghĩa học truyền thống và bình diện ngôn ngữ học tri nhận.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Vị trí và lựa chọn của luận án
Tổng quan cho thấy các công trình trước đây hoặc chỉ tiếp cận nhóm từ chỉ BPCTN nói chung, hoặc chỉ tập trung vào một số lượng hữu hạn các động từ đơn âm tiết phổ dụng (như phạm vi 70 từ HSK), hoặc tiếp cận thuần túy từ góc độ tri nhận về thành ngữ. Luận án của tác giả Nguyễn Hải Quỳnh Anh lựa chọn vị trí giải quyết toàn diện cả hai mảng: danh từ chỉ tay/bộ phận của tay và hệ thống các động từ biểu thị hoạt động của tay, kết hợp phân tích đối chiếu định lượng tần số, cấu trúc hình vị, các lớp nghĩa gốc - phái sinh và sự chi phối của nền tảng văn hóa - tư duy dân tộc.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và các khái niệm công cụ
Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên các thành tựu của ngữ nghĩa học truyền thống và ngôn ngữ học đối chiếu:
-
Khái niệm về từ và phân loại từ:
- Tiếp thu các quan điểm của Leonard Bloomfield, E. Sapir, Chu Đức Hy (朱德熙), Cát Bản Nghi (葛本仪), Trương Văn Chình - Nguyễn Hiến Lê, Hans Glinz, J. Erben, Hồ Lê, F. de Saussure và Đỗ Hữu Châu.
- Luận án xác định định nghĩa: "Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ, có khả năng hoạt động độc lập, có tính hoàn chỉnh về mặt ngữ âm và thực hiện chức năng làm đơn vị nhỏ nhất để tạo câu khi ngôn ngữ hoạt động".
- Về mặt cấu tạo: Phân loại từ tiếng Hán theo Châu Tổ Mô (周祖谟) thành từ đơn (đơn âm tiết, đa âm tiết) và từ ghép (liên hợp, chính phụ, chi phối, bổ sung, từ láy, ghép phụ tố). Phân loại từ tiếng Việt theo Đỗ Hữu Châu thành từ đơn, từ ghép (chính phụ, đẳng lập, không xác định quan hệ) và từ láy.
-
Cấu trúc nghĩa và sự phát triển nghĩa của từ:
- Phân tích các thành phần nghĩa: ý nghĩa biểu vật (quan hệ từ - đối tượng), ý nghĩa biểu niệm (quan hệ từ - khái niệm) và ý nghĩa biểu thái (nhân tố đánh giá, cảm xúc, thái độ theo Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng).
- Hiện tượng đa nghĩa: Phân loại nghĩa gốc - nghĩa phái sinh, nghĩa tự do - nghĩa hạn chế, nghĩa trực tiếp - nghĩa chuyển tiếp, nghĩa thường trực - nghĩa không thường trực.
-
Phương thức chuyển nghĩa của từ:
- Ẩn dụ (Metaphor): Cơ chế chuyển đổi tên gọi dựa trên mối quan hệ tương đồng giữa hai đối tượng (x và y). Phân loại theo Đỗ Hữu Châu gồm: ẩn dụ hình thức, ẩn dụ vị trí, ẩn dụ cách thức, ẩn dụ chức năng, ẩn dụ kết quả.
- Hoán dụ (Metonymy): Chuyển đổi tên gọi dựa trên sự kế cận, liên tưởng thực tế. Phân loại theo Đỗ Hữu Châu gồm: hoán dụ bộ phận - toàn thể, vật chứa - vật bị chứa, dụng cụ - nghề nghiệp, cơ quan chức năng - chức năng, tư thế cụ thể - nguyên nhân tư thế.
-
Quan hệ ngữ nghĩa và lý thuyết trường nghĩa:
- Áp dụng quan hệ cấp loại (bao gồm - nằm trong / hyponymy) và quan hệ toàn bộ - bộ phận (part-whole relationship) để xác lập cấu trúc tầng bậc của các đơn vị từ vựng.
- Vận dụng lý thuyết trường nghĩa của G. Ipsen, J. Trier, L. Weisgerber, Giả Ngạn Đức (贾彦德), Chu Quốc Quang (周国光) và hệ thống phân loại trường nghĩa của Đỗ Hữu Châu (trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm, trường nghĩa liên tưởng, trường nghĩa tuyến tính và trực tuyến).
-
Kiến thức giải phẫu học chi trên:
- Tiếp cận quan điểm y học về giải phẫu học chi trên để xác định ranh giới tự nhiên của các bộ phận tay làm căn cứ đối chiếu với ranh giới định danh trong ngôn ngữ.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu:
- Phương pháp miêu tả: Sử dụng thủ pháp thống kê, phân loại định lượng nhằm mô tả cấu trúc hình vị, các nét nghĩa và khả năng kết hợp của các từ ngữ chỉ tay và hoạt động của tay trong từng ngôn ngữ.
- Phương pháp ngôn ngữ học đối chiếu: So sánh cấu trúc, ngữ nghĩa và trường từ vựng tương đương giữa tiếng Hán và tiếng Việt để tìm ra các nét tương đồng (tính phổ quát) và dị biệt (tính đặc thù).
- Cách tiếp cận liên ngành: Kết hợp kiến thức y học giải phẫu và nhân học văn hóa để giải thích cơ sở phân chia và định danh các bộ phận, hành động của tay theo tư duy dân tộc.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
Tư liệu khảo sát được trích xuất từ các nguồn tài liệu:
- Từ điển tiếng Hán: Từ điển tiếng Hán hiện đại (现代汉语词典, tái bản lần 7, 2016), Từ điển tần suất tiếng Hán hiện đại (现代汉语频率词典, 1986), Đại từ điển tiếng Hán (汉语大词典, quyển 6), Đại từ điển động từ tiếng Hán hiện đại (现代汉语动词大词典), Từ điển cách dùng động từ tiếng Hán (汉语动词用法词典).
- Từ điển tiếng Việt: Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, 2015), Từ điển Hán - Việt (Phan Văn Các chủ biên, 2002).
- Kho ngữ liệu điện tử: Kho ngữ liệu Đại học Ngôn ngữ Bắc Kinh (BCC Corpus), Kho ngữ liệu tiếng Hán Cổ đại của Ủy ban Ngôn ngữ Quốc gia Trung Quốc; Kho ngữ liệu Vietlex (Vietlex Corpus).
- Ngữ liệu văn học tiếng Việt: Tác phẩm của các nhà văn Ma Văn Kháng (Ngược dòng nước lũ), Lưu Quang Vũ (15 truyện ngắn), Nguyễn Khắc Trường (Mảnh đất lắm người nhiều ma)...
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về từ chỉ BPCTN và hoạt động cơ thể người từ hai bình diện: ngữ nghĩa học truyền thống và ngôn ngữ học tri nhận. Đồng thời, tác giả xây dựng khung lý thuyết nền tảng gồm các quan niệm về từ, cấu tạo từ tiếng Hán và tiếng Việt, cấu trúc nghĩa từ vựng, phương thức chuyển nghĩa (ẩn dụ, hoán dụ), quan hệ cấp loại, quan hệ toàn bộ - bộ phận, lý thuyết trường nghĩa và cơ sở giải phẫu học y học về chi trên.
Chương 2: Đối chiếu từ ngữ chỉ tay giữa tiếng Hán và tiếng Việt
Chương 2 tập trung phân tích và đối chiếu hệ thống danh từ chỉ tay và các bộ phận của tay giữa hai ngôn ngữ.
+-------------------------------------------------------------------------+
| HỆ THỐNG DANH TỪ CHỈ TAY VÀ BỘ PHẬN TAY |
| |
| Tiếng Hán Tiếng Việt |
+-------------------------------------------------------------------------+
-
Đối chiếu cách định danh và phân loại bộ phận tay:
- Phân loại danh từ chỉ tổng thể: đối chiếu từ "手" (Hán) với từ "tay", "thủ" (Việt).
- Phân loại danh từ chỉ bộ phận: Khảo sát các đơn vị như 手臂 (thủ tí - cánh tay), 肘 (trửu - khuỷu tay), 前臂 (tiền tí - cẳng tay), 手腕 (thủ oản - cổ tay), 掌 (chưởng - lòng bàn tay), 手心 (thủ tâm - gan bàn tay/lòng bàn tay), 指 (chỉ - ngón tay) so sánh với các đơn vị tương đương trong tiếng Việt (cánh tay, khuỷu tay, cẳng tay, cổ tay, bàn tay, lòng bàn tay, ngón tay, mu bàn tay, đốt ngón tay, móng tay).
- Luận án lập các bảng thống kê số lượng và tần số xuất hiện của các từ ngữ mô tả từng bộ phận cụ thể.
-
Đối chiếu đặc điểm ngữ nghĩa và sự phát triển nghĩa:
- Sự chuyển nghĩa của từ "手" và từ "tay": Cả hai ngôn ngữ đều phát triển nghĩa phái sinh dựa trên đặc điểm vật lý (hình dáng, cấu trúc) và đặc điểm chức năng (công cụ lao động, hành động, kỹ năng, quyền lực, con người thực hiện hành động).
- Ví dụ: Từ "tay" trong tiếng Việt có các nét nghĩa chuyển chỉ biểu tượng lao động (chung tay), trình độ/nghề nghiệp (tay nghề, tay lái), người làm một nghề/hành vi cụ thể (tay súng, tay cờ bạc), quyền định đoạt (nằm trong tay), bên tham gia (tay đôi, tay ba), bộ phận đồ vật có hình dáng/chức năng tương tự (tay ghế, tay vịn).
- Khảo sát sự tương đồng và khác biệt về số lượng nét nghĩa phái sinh giữa các từ ngữ tương đương của hai ngôn ngữ qua các bảng đối chiếu nghĩa cụ thể.
| Nội dung đối chiếu |
Tiếng Hán |
Tiếng Việt |
| Từ chỉ tổng thể |
手 (thủ) |
Tay, thủ |
| Các bộ phận chính |
手臂, 肘, 前臂, 手腕, 掌, 手心, 指 |
Cánh tay, khuỷu tay, cẳng tay, cổ tay, bàn tay, lòng bàn tay, ngón tay |
| Cơ chế chuyển nghĩa vật lý |
Chuyển nghĩa dựa trên hình dạng, vị trí |
Chuyển nghĩa dựa trên hình dạng, vị trí |
| Cơ chế chuyển nghĩa chức năng |
Chỉ kỹ năng, quyền lực, con người, công cụ |
Chỉ người chuyên môn, bên tham gia, quyền hạn, vật tương ứng |
Chương 3: Đối chiếu các động từ biểu thị hoạt động của tay giữa tiếng Hán và tiếng Việt
Chương 3 đi sâu khảo sát hệ thống động từ biểu thị hành động của tay, phân chia thành các tiểu trường nghĩa và đối chiếu chi tiết:
-
Xác lập và phân loại trường nghĩa động từ hoạt động tay:
- Khảo sát kho từ vựng động từ trong các từ điển chuyên ngành và ngữ liệu thực tế của hai ngôn ngữ.
- Phân chia các động từ thành các nhóm tiểu trường nghĩa dựa trên phương thức tác động, tư thế và công cụ:
- Nhóm động từ biểu thị hoạt động cầm, nắm vật trong tay: Đối chiếu từ "拿" và các từ cùng nhóm trong tiếng Hán với các từ "cầm", "nắm", "xách", "bưng", "bê", "vác", "xách"... trong tiếng Việt.
- Nhóm động từ biểu thị hoạt động dùng tay (hoặc dụng cụ) gõ, đập lên vật thể: Đối chiếu các từ tiếng Hán với hệ thống từ tiếng Việt như "đập", "gõ", "bạt", "vỗ", "băm", "bổ"...
- Nhóm động từ biểu thị hoạt động đặt, để vật thể ở vị trí xác định.
- Nhóm động từ biểu thị sự tiếp xúc, cảm giác hoặc tác động bề mặt: Đối chiếu từ "摸" (tiếng Hán) với từ "sờ" (tiếng Việt), từ "挠" (tiếng Hán) với từ "gãi" (tiếng Việt).
-
Đối chiếu số lượng nét nghĩa và sự chuyển nghĩa của động từ:
- Tổng hợp số lượng nghĩa của động từ hoạt động tay trong tiếng Hán và tiếng Việt qua các bảng thống kê.
- Phân tích khả năng mở rộng nghĩa từ nghĩa hành động cụ thể sang nghĩa trừu tượng (ví dụ: cầm -> cầm quyền, nắm -> nắm bắt thông tin, bắt tay -> bắt tay hợp tác).
- Phân tích mối quan hệ giữa hoạt động của tay với các bộ phận cụ thể tham gia hành động (ngón tay: bấm, bẹo, bẻ, chỉ; lòng bàn tay: vỗ, xoa, tát; cả cánh tay: ôm, bế, nâng).
-
Chỉ ra các nhân tố chi phối sự tương đồng và khác biệt:
- Nét tương đồng: Do có cùng cơ sở nhận thức sinh học về cơ thể và sự tương đồng về loại hình ngôn ngữ đơn lập, không biến hình.
- Nét khác biệt: Bắt nguồn từ góc độ tri nhận văn hóa, phương thức tư duy cụ thể hóa hay khái quát hóa của từng dân tộc, cũng như sự khác nhau về khả năng kết hợp cú pháp và năng lực tạo từ ghép giữa tiếng Hán và tiếng Việt.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Vận dụng nhất quán lý thuyết trường từ vựng - ngữ nghĩa, lý thuyết cấu trúc nghĩa và các phương thức chuyển nghĩa (ẩn dụ, hoán dụ) để miêu tả có hệ thống một phân lớp từ vựng cụ thể (từ ngữ chỉ tay và hoạt động của tay).
- Góp phần bổ sung cơ sở lý luận cho chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu, đặc biệt là mảng đối chiếu song ngữ Hán - Việt.
- Làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa các nhân tố ngôn ngữ nội tại với các nhân tố ngoài ngôn ngữ (tư duy tri nhận, văn hóa, tập quán sinh hoạt) trong việc định danh và chuyển nghĩa từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Giảng dạy ngoại ngữ: Cung cấp tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy tiếng Hán cho người Việt Nam và giảng dạy tiếng Việt cho người học nói tiếng Hán, giúp người học nắm bắt chính xác các nét nghĩa tương đương và các điểm dị biệt để tránh lỗi chuyển di tiêu cực.
- Biên soạn từ điển và tài liệu: Kết quả đối chiếu nghĩa và bảng thống kê là nguồn ngữ liệu phục vụ công tác biên soạn từ điển song ngữ Hán - Việt, Việt - Hán cũng như các sách bài tập thực hành từ vựng.
- Dịch thuật: Cung cấp các tiêu chí phân biệt ngữ nghĩa tinh tế giữa các động từ hoạt động tay tương đương, hỗ trợ người dịch lựa chọn từ ngữ chuẩn xác trong chuyển dịch văn bản văn học và văn bản học thuật.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án chủ yếu tập trung khảo sát trên bình diện đồng đại dựa trên các nguồn từ điển quy chuẩn và ngữ liệu văn bản/kho ngữ liệu điện tử đã xác lập; chưa bao quát toàn bộ các biến thể khẩu ngữ, tiếng lóng hay các phương ngữ chuyên biệt của cả hai ngôn ngữ.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các bộ phận cơ thể khác (như chân, mắt, đầu...) để tạo nên bức tranh toàn diện về trường từ vựng BPCTN giữa tiếng Hán và tiếng Việt.
- Kết hợp sâu hơn với lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận hiện đại để phân tích các mô hình ngữ pháp hóa và khung vị từ của nhóm động từ hoạt động tay.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu, Sư phạm tiếng Trung, Ngôn ngữ Trung Quốc, Việt ngữ học.
- Giảng viên đại học: Sử dụng các bảng phân loại trường nghĩa, bảng đối chiếu từ vựng Hán - Việt để thiết kế bài giảng chuyên đề về Ngữ nghĩa học và Ngôn ngữ học đối chiếu.
- Biên dịch viên, nhà từ điển học: Tham khảo hệ thống giải nghĩa chi tiết các nhóm động từ chỉ hành động tay (nhóm cầm nắm, nhóm gõ đập, nhóm tiếp xúc...) để ứng dụng trong xử lý ngữ liệu dịch thuật song ngữ.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ sở lý thuyết chính được luận án sử dụng để phân loại và đối chiếu từ vựng là gì?
Luận án sử dụng lý thuyết ngữ nghĩa học truyền thống, trọng tâm là lý thuyết trường nghĩa (trường nghĩa biểu vật, biểu niệm, liên tưởng theo hệ thống của Đỗ Hữu Châu), lý thuyết cấu tạo từ, quan hệ cấp loại (bao gồm - nằm trong), quan hệ toàn bộ - bộ phận và các phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ, hoán dụ.
2. Luận án đã khảo sát những bộ phận cụ thể nào của tay trong tiếng Hán và tiếng Việt?
Luận án khảo sát từ chỉ toàn thể "手" (Hán) và "tay/thủ" (Việt), cùng hệ thống từ ngữ chỉ các bộ phận cấu thành gồm: cánh tay (手臂), khuỷu tay (肘), cẳng tay (前臂), cổ tay (手腕), lòng bàn tay (掌/手心), ngón tay (指), móng tay, đốt ngón tay.
3. Hệ thống động từ biểu thị hoạt động của tay được phân chia thành những nhóm tiểu trường nghĩa nào?
Các động từ được phân chia thành các nhóm chính: nhóm biểu thị hoạt động cầm nắm (như 拿 / cầm, nắm, xách, bưng...); nhóm biểu thị hoạt động dùng tay/dụng cụ gõ, đập (như đập, gõ, vỗ, bạt, bổ...); nhóm biểu thị hoạt động đặt, để vật thể; và nhóm biểu thị sự tiếp xúc, cảm giác (như 摸 / sờ, 挠 / gãi).
4. Nguồn ngữ liệu chính được sử dụng trong luận án bao gồm những gì?
Ngữ liệu được thu thập từ các từ điển đối chiếu chuẩn mực (như Từ điển tiếng Hán hiện đại, Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, Từ điển Hán - Việt của Phan Văn Các...), các kho ngữ liệu điện tử (BCC Corpus, Ngữ liệu Hán Cổ đại, Vietlex Corpus) và các tác phẩm văn học Việt Nam của Ma Văn Kháng, Lưu Quang Vũ, Nguyễn Khắc Trường.
5. Nguyên nhân chính dẫn đến sự khác biệt về nghĩa phái sinh của từ chỉ tay giữa hai ngôn ngữ là gì?
Sự khác biệt bắt nguồn từ đặc trưng tư duy nhận thức, tập quán văn hóa, lối sống của mỗi dân tộc và các đặc điểm nội tại về phương thức cấu tạo từ ghép, cấu trúc cú pháp của từng ngôn ngữ trong quá trình tri nhận hiện thực khách quan.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hải Quỳnh Anh là công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu, hoàn thành việc miêu tả và đối chiếu toàn diện hệ thống từ ngữ chỉ tay và động từ biểu thị hoạt động của tay giữa tiếng Hán và tiếng Việt. Bằng việc kết hợp phương pháp miêu tả định lượng, phân tích cấu trúc trường nghĩa và tiếp cận liên ngành y học - văn hóa, luận án đã làm sáng tỏ các quy luật định danh, cấu trúc nghĩa gốc và các cơ chế chuyển nghĩa phái sinh của nhóm từ vựng này. Kết quả nghiên cứu đóng góp thiết thực cho kho tàng lý luận ngôn ngữ học đối chiếu Hán - Việt, đồng thời mang lại giá trị ứng dụng rõ rệt cho công tác giảng dạy ngôn ngữ, biên soạn từ điển và dịch thuật song ngữ.