Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Hiện tượng đồng âm (ĐÂ) và đa nghĩa (ĐN) là những hiện tượng có tính phổ quát trong ngôn ngữ, xuất hiện ở cấp độ từ, ngữ và câu, trong đó đồng âm và đa nghĩa ở cấp độ từ là phổ biến nhất. Trong lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ học nói chung và Việt ngữ học nói riêng, hiện tượng từ đồng âm và từ đa nghĩa đã được đề cập từ sớm với nhiều hướng tiếp cận và quan điểm phân loại khác nhau. Tuy nhiên, các công trình trước đây vẫn còn tồn tại nhiều bất đồng về tiêu chí nhận diện và phân loại, chưa có công trình nào lấy đồng thời từ đồng âm, từ đa nghĩa và từ vừa đồng âm vừa đa nghĩa làm đối tượng nghiên cứu trung tâm có tính hệ thống.

Đặc biệt, giới nghiên cứu trước đó chưa xác lập tường minh sự đối lập cơ bản giữa từ đồng âm cùng gốc ngữ nghĩa (ĐÂCG - hình thành qua quá trình chuyển loại hoặc phân li ngữ nghĩa) với từ đồng âm khác gốc ngữ nghĩa (ĐÂKG - đồng âm ngẫu nhiên). Bên cạnh đó, việc phân định ranh giới giữa đa nghĩa của một từ thông thường (có quan hệ phái sinh) với đa nghĩa giữa các từ đồng âm (chỉ có liên hệ ngữ nghĩa) vẫn còn nhiều điểm chưa được giải quyết thấu đáo. Do đó, luận án xác định việc nghiên cứu toàn diện từ đồng âm, từ đa nghĩa và từ vừa đồng âm vừa đa nghĩa trong tiếng Việt trên cơ sở đối chiếu với tiếng Hán hiện đại là một yêu cầu cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn miêu tả ngôn ngữ học.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là làm sáng tỏ bản chất, đặc điểm, vị trí và mối quan hệ giao thoa giữa hiện tượng đồng âm và hiện tượng đa nghĩa trong tiếng Việt, đồng thời đối chiếu với tiếng Hán hiện đại để xác định những điểm tương đồng và dị biệt mang tính loại hình.

Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được xác định như sau:

  1. Hệ thống hóa các cơ sở lý luận liên quan đến từ, cấu trúc nghĩa của từ, hiện tượng chuyển loại, vai trò của chữ viết và các tiêu chí nhận diện, phân loại đơn vị đồng âm, đa nghĩa và vừa đồng âm vừa đa nghĩa.
  2. Khảo sát, thống kê và phân loại các đơn vị đồng âm trong tiếng Việt theo các tiêu chí (nguồn gốc, từ loại, cấp độ đơn vị ngôn ngữ, số lượng âm tiết cấu tạo, quan hệ ngữ nghĩa nội bộ); đối chiếu với hiện tượng đồng âm trong tiếng Hán hiện đại.
  3. Khảo sát, thống kê và phân loại các đơn vị đa nghĩa trong tiếng Việt theo các tiêu chí (từ loại, số lượng âm tiết cấu tạo, dung lượng ngữ nghĩa); đối chiếu với hiện tượng đa nghĩa trong tiếng Hán hiện đại trên cả diện rộng và diện hẹp.
  4. Nghiên cứu nhóm từ vừa đồng âm vừa đa nghĩa trong khu vực đồng âm cùng gốc và khác gốc; phân tích đặc điểm cấu tạo, nguồn gốc và dung lượng ngữ nghĩa; đối chiếu các nhóm đơn vị này giữa tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Từ đồng âm, từ đa nghĩa, từ vừa đồng âm vừa đa nghĩa trong tiếng Việt; đối chiếu với các đơn vị tương ứng trong tiếng Hán hiện đại. Trọng tâm nghiên cứu đặt vào việc phân lập khu vực từ đồng âm cùng gốc (ĐÂCG) và từ đồng âm khác gốc (ĐÂKG).
  • Phạm vi ngữ liệu: Ngữ liệu khảo sát tiếng Việt được trích xuất từ Từ điển tiếng Việt (2006) do Hoàng Phê chủ biên và các từ điển chuyên biệt khác. Ngữ liệu đối chiếu tiếng Hán hiện đại được thu thập từ Hiện đại Hán ngữ từ điển (2005) cùng các công trình từ điển học và chuyên luận ngôn ngữ học Hán ngữ liên quan.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tiến hành tổng quan lịch sử nghiên cứu một cách hệ thống qua các giai đoạn phát triển tại Việt Nam và Trung Quốc:

Nghiên cứu tại Việt Nam

  • Giai đoạn trước năm 1945: Hiện tượng ĐÂ và ĐN ban đầu được xử lý gián tiếp trong các công trình tự vị nhằm chuẩn hóa chữ quốc ngữ. Huỳnh Tịnh Của trong Đại Nam quấc âm tự vị (1895) bước đầu phân biệt các đề mục đồng âm ngữ nghĩa nhưng còn bỏ sót các trường hợp phân li ngữ nghĩa. Nguyễn Văn Mai với Đồng âm tự vị (1925) là người đầu tiên chuyên biệt hóa việc thu thập 1.779 đơn vị đồng âm đơn tiết. Việt Nam tự điển (1931) của Hội Khai Trí Tiến Đức bắt đầu tách bạch mục từ ĐÂ bằng chữ số La Mã và các nét nghĩa ĐN bằng chữ số Ả Rập, phân biệt từ ĐÂ và hình vị ĐÂ. Đào Duy Anh trong Hán Việt từ điển (1932) phân loại chi tiết các hình vị ĐÂ Hán Việt kèm chữ Hán tương ứng (như 7 mục từ có âm đọc DAO). Trà Ngân Lê Ngọc Vượng (1939) và nhóm Trần Trọng Kim, Bùi Kỉ, Phạm Duy Khiêm trong Việt Nam văn phạm (1940) đã đưa ra các khái niệm ban đầu về từ đồng âm, chỉ ra nguồn gốc phần lớn từ chữ nho và phân tích nhược điểm của chữ quốc ngữ khi ghi các âm đồng tự dạng.
  • Giai đoạn 1945 – 1975: Trần Văn Khải với Đồng âm vận tuyển (1947) thu thập 3.647 hình vị và từ, sử dụng phương pháp đối chiếu tự điển ba miền và sáng tạo các câu thơ lục bát giúp phân biệt chính tả. Đào Văn Tập trong Tự-điển Việt-Nam phổ-thông (1951) đã gộp các từ đồng âm chuyển loại vào chung mục từ đa nghĩa. Hoàng Phê (1969) và Đỗ Hữu Châu (1969) đặt nền móng lý luận từ điển học cho việc tách từ ĐÂ và phân chia nét nghĩa; Đỗ Hữu Châu đề xuất 2 nguyên tắc xử lý hệ thống và 3 tiêu chuẩn phân tách nghĩa (theo đặc điểm từ loại, đặc điểm kết hợp cú pháp, và khả năng kết hợp ngữ nghĩa). Nguyễn Thiện Giáp (1971) chỉ ra đặc trưng ĐÂ tiếng Việt gắn liền với tính không biến hình và sự trùng hợp giữa hình vị với âm tiết, phân chia ĐÂ hoàn toàn và ĐÂ bộ phận.
  • Giai đoạn từ 1976 đến nay: Hồ Lê (1976, 1996) phân loại hệ thống nguyên vị và cấu trúc nghĩa vị của tiếng Việt. Đinh Văn Đức (1978) đề xuất tách lớp "đồng âm ngữ pháp" do chuyển loại. Nguyễn Văn Tu (1978) phân chia ĐÂ từ vựng và ĐÂ từ vựng – ngữ pháp qua 3 nguồn gốc và 3 cách phân biệt. Đỗ Hữu Châu (1981) nhấn mạnh ĐÂ phải cùng cấp độ và phân tích khó khăn khi tách từ chuyển loại lớn. Lê Quang Thiêm (1989) nghiên cứu đối chiếu các bình diện ĐÂ, đưa ra thống kê 37.088 từ tiếng Việt và phân tích cấu trúc quan hệ ngữ nghĩa (kế tiếp, song song, xen kẽ). Phan Ngọc (1995) thiết lập 6 kiểu kết hợp ĐÂ dựa trên 3 lớp từ thuần Việt, Hán Việt, láy âm. Nguyễn Thiện Giáp (1998) phân chia 5 kiểu từ, 14 kiểu quan hệ ĐÂ và 4 con đường hình thành từ ĐÂ. Nhóm Hoàng Văn Hành, Hà Quang Năng, Nguyễn Văn Khang (1998) và Từ điển đồng âm tiếng Việt (2001) đã thu thập khoảng 7.000 đơn vị ĐÂ. Nguyễn Văn Khang (2007) phân tích xung đột ĐÂ ở lớp từ ngoại lai gốc Hán và gốc Pháp.

Nghiên cứu tại Trung Quốc

  • Giai đoạn 1950 – 1976: Tồn tại hai xu hướng: quan niệm rộng của Tôn Thường Tự (chấp nhận cả các từ khác thanh điệu) và quan niệm hẹp của Cao Danh Khải, Hà Ái Nhân, Chu Tổ Mạc, Vương Cần, Võ Chiếm Khôn (bắt buộc đồng nhất thanh, vận, điệu). Thôi Hạ Ái đề xuất phân biệt từ đồng âm đồng hình (ĐÂĐH) và đồng âm dị hình (ĐÂDH). Lưu Thúc Tân và Lí Hành Kiện (1975) đề xuất hai thuật ngữ "thâm hóa" (深化) và "phân cát" (分割) trong sự biến đổi ý nghĩa của từ.
  • Giai đoạn sau 1976: Trương Vĩnh Ngôn đề xuất thuật ngữ "đẳng âm từ" (等音词). Phù Phó Thanh (1985) trong Hiện đại Hán ngữ từ vựng định hình khái niệm "nghĩa hạng" (义项), phân loại ĐÂ thành ĐÂĐH, ĐÂDH và ĐÂ phái sinh. Tạ Văn Khánh và Vương Chấn Côn (1982) công bố số liệu thống kê 168 tổ hợp ĐÂ song tiết với 346 từ trong Hiện đại Hán ngữ từ điển. Lưu Thúc Tân phân tích hiện tượng ĐÂ ngẫu nhiên và ĐÂ do phân hóa đa nghĩa, đề xuất mở rộng sang khái niệm "từ ngữ đồng âm" (同音词语).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án giải quyết khoảng trống về tính thiếu nhất quán trong việc phân lập ranh giới giữa ĐÂ và ĐN bằng cách:

  1. Tách biệt tường minh nhóm đồng âm cùng gốc (ĐÂCG) và đồng âm khác gốc (ĐÂKG).
  2. Khảo sát trực tiếp nhóm giao thoa: các đơn vị từ vừa đồng âm vừa đa nghĩa.
  3. Thực hiện mô tả và thống kê định lượng trên ngữ liệu đối chiếu tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại theo các tiêu chí hình thức và ngữ nghĩa nhất quán.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

  • Quan niệm về từ: Luận án tiếp thu lý thuyết ngôn ngữ học đại cương (F. de Saussure, L. Bloomfield, J. Lyons) và các thành tựu của Việt ngữ học (Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Quang Hồng, Nguyễn Thiện Giáp). Luận án chấp nhận giả thuyết xem "âm tiết / tiếng – từ một tiếng – hình vị" là một thể ba ngôi phù hợp với đặc trưng loại hình ngôn ngữ đơn lập.
  • Cấu trúc nghĩa của từ: Nghĩa của từ được xác định là quan hệ của từ với hiện thực ngoài ngôn ngữ. Cấu trúc nghĩa gồm 3 thành phần cơ bản: nghĩa biểu vật (NBV), nghĩa biểu niệm (NBN - hạt nhân cơ bản, ổn định), và nghĩa biểu thái (NBT). Trong tiếng Hán, khái niệm "nghĩa hạng" được vận dụng tương đương với nét nghĩa chung trong tiếng Việt.
  • Hiện tượng chuyển loại (HTCL): Được định nghĩa là phương thức cấu tạo từ tạo ra từ mới thuộc từ loại khác từ một từ xuất phát mà vẫn giữ nguyên vỏ âm thanh, đồng thời xác lập ý nghĩa và đặc trưng ngữ pháp mới mà không sử dụng phụ tố hình thái học.
  • Vai trò của chữ viết: Luận án vận dụng quan điểm của Saussure và Cao Xuân Hạo về mối quan hệ giữa âm thanh và chữ viết. Đối với tiếng Việt, luận án quy ước các đơn vị đồng âm được khảo sát đồng thời là các đơn vị đồng tự dạng trên văn tự quốc ngữ.
  • Khái niệm ĐÂ, ĐN và từ ĐÂĐN: Hiện tượng ĐÂ là sự đồng nhất về mặt biểu hiện (ngữ âm, chữ viết) nhưng khác nhau về bình diện được biểu hiện (ý nghĩa từ vựng, ngữ pháp). Hiện tượng ĐN là hiện tượng một hình thức ngữ âm biểu hiện nhiều nghĩa hạng có mối liên hệ phái sinh. Từ vừa ĐÂ vừa ĐN là đơn vị tham gia vào chuỗi đồng âm đồng thời bản thân nó chứa từ hai nét nghĩa/nghĩa hạng trở lên.
+-------------------------------------------------------------------+
|               BẢN CHẤT NGỮ NGHĨA - HÌNH THỨC CỦA ĐƠN VỊ            |
+---------------------------------+---------------------------------+
|      HIỆN TƯỢNG ĐỒNG ÂM (ĐÂ)    |      HIỆN TƯỢNG ĐA NGHĨA (ĐN)   |
+---------------------------------+---------------------------------+
| - Đồng nhất về hình thức ngữ âm | - Đồng nhất về hình thức ngữ âm |
| - Khác biệt về nội dung ý nghĩa | - Chứa nhiều nghĩa hạng         |
| - Gồm ĐÂCG (cùng gốc) và ĐÂKG   | - Các nghĩa có quan hệ phái     |
|   (khác gốc / ngẫu nhiên)       |   sinh hoặc liên hệ ngữ nghĩa   |
+---------------------------------+---------------------------------+
                                  |
                                  v
+-------------------------------------------------------------------+
|               KHU VỰC GIAO THOA: TỪ VỪA ĐÂ VỪA ĐN                 |
| - Tham gia vào loạt đồng âm với các mục từ khác                   |
| - Nội bộ mục từ sở hữu dung lượng ngữ nghĩa từ 2 nghĩa trở lên    |
+-------------------------------------------------------------------+

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học: Sử dụng các thủ pháp phân tích thành tố nghĩa, phân tích cấu trúc cú đoạn và phân tích ngữ cảnh để xác định ranh giới nghĩa vị và từ loại.
  • Phương pháp thống kê - phân loại: Thu thập, bóc tách và phân loại định lượng toàn bộ các mục từ ĐÂ, ĐN và vừa ĐÂ vừa ĐN trong hai bộ từ điển nguồn.
  • Phương pháp so sánh - đối chiếu: Đối chiếu các chỉ số thống kê, mô hình cấu tạo, số lượng âm tiết và đặc điểm ngữ nghĩa giữa tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại nhằm làm sáng tỏ các tương đồng và dị biệt loại hình.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Dữ liệu khảo sát được thu thập từ các công trình từ điển học chuẩn thức và các kết quả nghiên cứu định lượng đã được công bố:

  • Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên, NXB Đà Nẵng, 2006).
  • Hiện đại Hán ngữ từ điển (Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, Thương vụ ấn thư quán, 2005).
  • Các số liệu đối chiếu từ công trình của Lê Quang Thiêm (1989) trên 37.088 từ tiếng Việt và Tạ Văn Khánh – Vương Chấn Côn (1982) trên tiếng Hán hiện đại.

Dữ liệu phân bố từ đơn nghĩa và đa nghĩa trong tiếng Việt (Lê Quang Thiêm, 1989)

Từ loại Tỷ lệ Đa nghĩa (%) Tỷ lệ Đơn nghĩa (%)
Danh từ 30,16 69,84
Động từ 31,48 69,52
Tính từ 27,70 72,30
Toàn bộ vốn từ (37.088 từ) 38,52 61,48

Dữ liệu phân bố dung lượng nét nghĩa của từ đa nghĩa tiếng Việt (Lê Quang Thiêm, 1989)

Số lượng nghĩa (Dung lượng nghĩa) Tỷ lệ xuất hiện (%)
2 nghĩa 79,30
3 nghĩa 12,60
4 nghĩa 6,38
5 nghĩa 1,82
6 nghĩa 0,82
7 nghĩa 0,53
8 nghĩa 0,54
9 nghĩa 0,17
10 nghĩa 0,12
11 nghĩa 0,90
12 nghĩa 0,08

Dữ liệu khảo sát từ đồng âm song tiết trong Hiện đại Hán ngữ từ điển (Tạ Văn Khánh & Vương Chấn Côn)

Loại hình đồng âm song tiết Số tổ hợp Số lượng từ Tỷ lệ (%)
Đồng âm đồng hình (ĐÂĐH) 65 130 37,0
Đồng âm dị hình (ĐÂDH) 103 216 62,0
Tổng số tổ hợp khảo sát 168 346 100,0

Nội dung chính theo từng chương

Dẫn nhập (37 trang)

Trình bày lý do lựa chọn đề tài, xác định đối tượng nghiên cứu là từ ĐÂ, từ ĐN và từ vừa ĐÂ vừa ĐN trong tiếng Việt đối chiếu tiếng Hán hiện đại. Tổng thuật chi tiết lịch sử nghiên cứu vấn đề tại Việt Nam (từ trước 1945 đến nay) và Trung Quốc (từ 1950 đến nay). Xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, nguồn ngữ liệu, các đóng góp mới và cấu trúc của luận án.

Chương 1: Những cơ sở lí luận chung (32 trang)

Chương 1 xây dựng nền tảng lý thuyết cho toàn bộ luận án qua 10 tiểu mục:

  • Phân tích bản chất của từ trong ngôn ngữ đơn lập, xác lập giải thuyết thể ba ngôi "âm tiết/tiếng – từ một tiếng – hình vị".
  • Trình bày cấu trúc nghĩa từ (NBV, NBN, NBT) và lý thuyết nghĩa vị của Hồ Lê; phân tích 4 loại nghĩa hạng trong tiếng Hán (nghĩa gốc, nghĩa cơ bản, nghĩa dẫn xuất, nghĩa tỷ dụ).
  • Luận giải hiện tượng chuyển loại như một phương thức cấu tạo từ không kèm phụ phẩm trong tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại.
  • Khảo sát vai trò của chữ viết trong việc nhận diện hiện tượng đồng âm, xác định mối liên hệ giữa chữ biểu ý (chữ Hán) và chữ ghi âm (quốc ngữ).
  • Xác lập định nghĩa, danh xưng, tiêu chí nhận diện và giới hạn phân định của các đơn vị ĐÂ, ĐN và từ vừa ĐÂ vừa ĐN; làm rõ vị trí của từ đồng âm cùng gốc (ĐÂCG) trong tổng thể hệ thống từ vựng tiếng Việt.

Chương 2: Hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt đối chiếu với tiếng Hán hiện đại (36 trang)

Chương 2 tập trung vào việc mô tả, phân loại và đối chiếu hiện tượng đồng âm:

  • Thống kê định lượng các đơn vị ĐÂ trong Từ điển tiếng Việt (2006): xác định tổng số loạt ĐÂ, tổng số đơn vị ĐÂ và tỷ lệ xuất hiện.
  • Phân loại chi tiết các kiểu ĐÂ tiếng Việt dựa trên 4 tiêu chí: nguồn gốc (thuần Việt, Hán Việt, ngoại lai khác), từ loại (cùng từ loại, khác từ loại), cấp độ đơn vị ngôn ngữ (từ, hình vị), và số lượng âm tiết cấu tạo (đơn tiết, đa tiết).
  • Phân tích hiện tượng ĐÂ trong tiếng Hán hiện đại qua các tiêu chí hình - âm - nghĩa, số lượng âm tiết và dạng thức ĐÂ phái sinh đặc thù sau uốn nếp cuốn lưỡi (儿化 - er-hua).
  • Đối chiếu hệ thống từ ĐÂCG giữa tiếng Việt và tiếng Hán; chứng minh tiếng Hán có số lượng âm tiết cơ bản ít hơn tiếng Việt dẫn đến mật độ ĐÂ ngẫu nhiên (ĐÂKG) cao hơn, trong khi tiếng Việt phát triển mạnh các loạt ĐÂ đơn tiết và ĐÂ do chuyển loại.

Chương 3: Hiện tượng đa nghĩa trong tiếng Việt đối chiếu với tiếng Hán hiện đại (46 trang)

Chương 3 triển khai khảo sát hiện tượng đa nghĩa trên cả diện rộng và diện hẹp:

  • Thống kê toàn diện các đơn vị ĐN trong Từ điển tiếng Việt (2006) và Hiện đại Hán ngữ từ điển (2005).
  • Phân loại và mô tả các tiểu loại ĐN tiếng Việt theo từ loại (danh từ, động từ, tính từ), số lượng âm tiết tham gia cấu tạo (từ đơn, từ phức), và dung lượng ngữ nghĩa (số lượng nét nghĩa/nghĩa hạng).
  • Xác định các mô hình đa nghĩa cơ bản (2 - 3 nghĩa, chiếm đa số tuyệt đối) và các mô hình đa nghĩa mở rộng/không cơ bản trong hai ngôn ngữ.
  • Đối chiếu cấu trúc đa nghĩa giữa tiếng Việt và tiếng Hán trên các phạm trù từ vựng phổ quát; chỉ ra tiếng Việt có xu hướng cấu tạo từ mới bằng ghép âm tiết thay vì phát triển dung lượng nghĩa quá lớn cho một từ đơn lẻ.

Chương 4: Từ đồng âm và đa nghĩa trong tiếng Việt đối chiếu với tiếng Hán hiện đại (20 trang)

Chương 4 nghiên cứu vùng giao thoa giữa hai hiện tượng:

  • Thống kê và phân loại các đơn vị từ vừa ĐÂ vừa ĐN trong khu vực ĐÂ cùng gốc (ĐÂCG) và ĐÂ khác gốc (ĐÂKG).
  • Miêu tả nguồn gốc hình thành, đặc điểm cấu tạo, dung lượng ngữ nghĩa và quan hệ phái sinh nội bộ của các đơn vị từ vừa ĐÂ vừa ĐN trong tiếng Việt và tiếng Hán.
  • Đối chiếu có hệ thống nhóm từ vừa ĐÂ vừa ĐN giữa hai ngôn ngữ, tập trung vào cơ chế chuyển hóa từ loại tạo ra các cặp từ đồng âm có dung lượng đa nghĩa độc lập.

Kết luận (10 trang)

Tổng kết toàn bộ các kết quả nghiên cứu lý luận và số liệu thực nghiệm của 4 chương; nêu rõ những hạn chế khách quan về nguồn tư liệu và định hướng các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu mở rộng.


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án đã làm rõ cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa hiện tượng đồng âm và đa nghĩa trong ngôn ngữ đơn lập, xác lập khung phân định ranh giới giữa từ ĐÂ và từ ĐN dựa trên tính liên tục của quan hệ phái sinh ngữ nghĩa và cấu trúc biểu niệm.
  • Đưa ra kiến giải lý thuyết nhất quán về vị trí của nhóm từ đồng âm cùng gốc (ĐÂCG) hình thành qua phương thức chuyển loại không phụ tố, tách biệt với nhóm từ đồng âm khác gốc (ĐÂKG) do trùng hợp ngẫu nhiên về vỏ ngữ âm.
  • Hệ thống hóa mô hình miêu tả cấu trúc ngữ nghĩa của từ vừa đồng âm vừa đa nghĩa, bổ sung cơ sở lý luận loại hình học cho việc nghiên cứu đối chiếu giữa tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh thống kê định lượng về hiện tượng ĐÂ, ĐN và từ vừa ĐÂ vừa ĐN trong hai bộ từ điển tiêu biểu (Từ điển tiếng Việt 2006 và Hiện đại Hán ngữ từ điển 2005).
  • Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho công tác từ điển học trong việc chuẩn hóa nguyên tắc phân tách mục từ đồng âm và phân chia nét nghĩa của từ đa nghĩa.
  • Cung cấp luận cứ phục vụ giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài và giảng dạy tiếng Hán hiện đại cho người Việt Nam, giúp người học nhận thức rõ các hiện tượng xung đột đồng âm và chuyển di ngữ nghĩa.

Kiến nghị và đề xuất

  • Đề xuất các nhà biên soạn từ điển tiếng Việt cần áp dụng tiêu chí hệ thống và tường minh hơn khi xử lý các trường hợp chuyển loại từ vựng: phân biệt rõ ràng giữa mục từ đa nghĩa với các mục từ đồng âm chuyển loại.
  • Kiến nghị trong nghiên cứu và giảng dạy từ vựng Hán Việt cần kết hợp xem xét chữ Hán (văn tự biểu ý) như một tiêu chí hỗ trợ phân biệt các hình vị đồng âm bị che khuất bởi chữ quốc ngữ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế

  • Ngữ liệu khảo sát định lượng của luận án chủ yếu dựa trên các ấn bản từ điển đơn ngữ tiêu biểu (Từ điển tiếng Việt 2006 và Hiện đại Hán ngữ từ điển 2005), chưa thể bao quát hết toàn bộ kho từ vựng trong khẩu ngữ sinh hoạt thực tế và các biến thể phương ngữ.
  • Việc xử lý ranh giới từ loại và ranh giới giữa hình vị cấu tạo từ với từ độc lập (đặc biệt là lớp từ Hán Việt) trong một số trường hợp cụ thể vẫn còn chịu ảnh hưởng bởi tính phức tạp của loại hình ngôn ngữ không biến hình.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu hiện tượng đồng âm và đa nghĩa lên các cấp độ ngữ pháp cao hơn như cụm từ (ngữ) và cấu trúc câu.
  • Khảo sát sâu hơn cơ chế tiếp nhận tâm lý ngôn ngữ học và các giải pháp khử hiện tượng mơ hồ do từ đồng âm và đa nghĩa tạo ra trong hoạt động giao tiếp thực tế.
  • Ứng dụng kết quả phân lập từ đồng âm và đa nghĩa vào lĩnh vực xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) cho tiếng Việt và tiếng Hán.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Lí luận ngôn ngữ, Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu, Việt ngữ học và Hán ngữ học.
    • Giảng viên, sinh viên các khoa Ngữ văn, Ngôn ngữ học, Sư phạm Tiếng Trung, Đông phương học.
    • Các chuyên gia biên soạn từ điển học và các nhà nghiên cứu xử lý ngôn ngữ tự nhiên.
  • Nội dung giá trị nên tham khảo:
    • Khung lý luận phân biệt từ đồng âm cùng gốc (ĐÂCG) và từ đồng âm khác gốc (ĐÂKG) tại Chương 1.
    • Bảng thống kê và phân loại các kiểu kết hợp đồng âm, đa nghĩa trong Chương 2 và Chương 3.
    • Mô hình phân tích nhóm từ vừa đồng âm vừa đa nghĩa tại Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân biệt từ đồng âm cùng gốc (ĐÂCG) và từ đồng âm khác gốc (ĐÂKG) dựa trên cơ sở nào?

Luận án phân biệt dựa trên tiêu chí cội nguồn và quan hệ ngữ nghĩa:

  • Từ đồng âm cùng gốc (ĐÂCG): Là những từ có cùng hình thức ngữ âm, có chung nguồn gốc ngữ nghĩa nhưng đã phân hóa thành các từ khác nhau về bản chất từ loại (thông qua hiện tượng chuyển loại không kèm phụ phẩm, ví dụ: cuốc [danh từ] và cuốc [động từ]) hoặc qua quá trình phân li ngữ nghĩa lịch sử làm đứt đoạn quan hệ phái sinh.
  • Từ đồng âm khác gốc (ĐÂKG): Là những từ trùng hợp nhau về vỏ âm thanh một cách ngẫu nhiên, hoàn toàn không có mối liên hệ cội nguồn hay quan hệ phái sinh nào về mặt ngữ nghĩa (ví dụ: nước [chất lỏng] và nước [quốc gia]).

2. Theo các tác giả được luận án tổng quan, sự khác biệt về số lượng âm tiết ảnh hưởng thế nào đến hiện tượng đồng âm giữa tiếng Việt và tiếng Hán?

Theo các nghiên cứu được dẫn lại (như Nguyễn Quang Hồng, Nguyễn Thiện Giáp, Phan Ngọc):

  • Tiếng Hán hiện đại sử dụng số lượng âm tiết cơ bản thực tế ít hơn rất nhiều so với tiếng Việt (khoảng 1.255 âm tiết thực tế, 408 khuôn âm tiết không kể thanh điệu; trong khi tiếng Việt sử dụng phổ biến khoảng 6.000 đến 8.590 âm tiết).
  • Do số lượng âm tiết ít hơn nên áp lực định danh dẫn đến hiện tượng đồng âm ngẫu nhiên trong tiếng Hán xuất hiện với mật độ cao hơn nhiều so với tiếng Việt. Tiếng Hán phải bù đắp bằng cách phát triển mạnh hệ thống từ song tiết và dựa vào văn tự biểu ý (chữ Hán) để khu biệt nghĩa.

3. Đỗ Hữu Châu (1969) đã đề xuất những nguyên tắc và tiêu chuẩn nào để phân tách nghĩa và từ đồng âm trong từ điển?

Đỗ Hữu Châu đề xuất 2 nguyên tắc và 3 tiêu chuẩn:

  • 2 nguyên tắc: (1) Phải đảm bảo tính hệ thống trong toàn nhóm từ vựng, tránh cô lập đối tượng; (2) Phải nêu bật được thuộc tính thường trực tổ chức và chi phối các nghĩa khác nhau của từ.
  • 3 tiêu chuẩn tách nghĩa:
    1. Chia theo số lượng đặc điểm từ loại khác nhau của từ (tiêu chuẩn mạnh).
    2. Chia theo số lượng đặc điểm cú pháp/kết hợp trong cùng một từ loại (tiêu chuẩn mạnh).
    3. Chia theo khả năng kết hợp ngữ nghĩa với các từ loại khác trong cùng đặc điểm ngữ pháp (tiêu chuẩn thứ yếu).

4. Theo thống kê của Lê Quang Thiêm (1989) được luận án dẫn chứng, cấu trúc đa nghĩa tiếng Việt có đặc điểm gì nổi bật?

Theo khảo sát trên 37.088 từ tiếng Việt của Lê Quang Thiêm:

  • Từ đơn nghĩa chiếm đa số (61,48%), từ đa nghĩa chiếm 38,52%.
  • Trong các từ loại, động từ có tỷ lệ đa nghĩa cao nhất (31,48%), tiếp đến là danh từ (30,16%) và tính từ (27,70%).
  • Về dung lượng nghĩa của từ đa nghĩa, mô hình 2 nghĩa chiếm tỷ lệ áp đảo tuyệt đối với 79,30%; mô hình 3 nghĩa chiếm 12,60%; từ 4 nghĩa trở lên chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ (dưới 8,1%).

5. Hiện tượng chuyển loại trong tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại có đặc điểm hình thái học như thế nào?

Cả tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại đều thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, do đó hiện tượng chuyển loại ở đại bộ phận từ vựng diễn ra theo phương thức không kèm phụ phẩm hình thái (không thay đổi vỏ ngữ âm, không thêm tiền tố/hậu tố như các ngôn ngữ biến hình Ấn-Âu). Điểm khác biệt duy nhất được luận án chỉ ra là trong tiếng Hán hiện đại tồn tại một số ít trường hợp chuyển loại phái sinh có kèm phụ phẩm cuốn lưỡi (儿化 - er-hua, ví dụ: 坐 zuò [động từ: ngồi] chuyển thành 坐儿 zuòr [danh từ: chỗ ngồi]), trong khi tiếng Việt 100% không dùng phụ phẩm.


Kết luận

Luận án tiến sĩ Đồng âm và đa nghĩa trong tiếng Việt (đối chiếu với tiếng Hán hiện đại) của nghiên cứu sinh Đào Mạnh Toàn đã giải quyết có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về hai hiện tượng từ vựng ngữ nghĩa trung tâm trong ngôn ngữ đơn lập. Tác giả đã phân định ranh giới giữa từ đồng âm cùng gốc (do chuyển loại) và đồng âm khác gốc (ngẫu nhiên), đồng thời làm rõ đặc điểm của nhóm từ giao thoa vừa đồng âm vừa đa nghĩa. Dựa trên ngữ liệu từ điển chuẩn thức, công trình cung cấp nguồn dữ liệu thống kê định lượng và phân tích đối chiếu giá trị giữa tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại, đóng góp thiết thực cho ngành lí luận ngôn ngữ, từ điển học và công tác giảng dạy ngôn ngữ.