chương I Những điều khái lược (tr.18-19) và ở mục Lời tựa (tr. VIII, XI) là những chỗ thể hiện rõ quan điểm của họ về từ ĐÂ và ĐN. Theo họ, “tiếng ĐÂ là những tiếng viết giống nhau và đọc đồng một âm như nhau, nhưng cái nghĩa thì khác mà không có liên – lạc gì với nhau cả. Ví như một tiếng nước là nói một xứ có vua quan cai trị; một tiếng nước khác là nói chất lỏng ở sông ở biển.
Một tiếng năm là nói khoảng thời gian có mười – hai tháng; một tiếng năm khác là nói số đếm sau số bốn” (Việt Nam văn phạm, tr. Họ còn bàn về nguồn gốc của từ ĐÂ và nhược điểm của chữ Quốc ngữ: “những tiếng ĐÂ ấy nhiều nhất là những tiếng gốc ở chữ nho mà ra” , họ nêu ví dụ: Chữ minh là sáng thì viết chữ 明, chữ minh là tối thì viết chữ 冥, chữ minh là mờ - mịt bát - ngát thì viết chữ 瞑, chữ minh là thề thì viết chữ 盟, chữ minh là ghi, khắc thì viết chữ 铭, chữ minh là kêu (nói về chim) thì viết chữ 鸣”.Theo họ thì “những chữ ấy viết bằng chữ nho là sáu chữ khác nhau, mà viết bằng quốc - ngữ thì tiếng nào cũng như nhau cả. Song ta phải biết phân – biệt rằng đó là sáu tiếng minh có sáu nghĩa riêng, chứ không phải là một tiếng minh mà có sáu nghĩa.” (Việt Nam văn phạm; tr. Trong Lời tựa, họ đưa ra nhận xét: “Chữ quốc – ngữ rất tiện – lợi là nhờ có năm cái dấu giọng có thể phiên – dịch đúng hết thảy các âm.
Chỉ hiềm vì các âm 6 tuy đúng, song khi gặp những tiếng đồng – âm thì viết giống nhau cả, thành ra người nào không biết chữ nho, không làm thế nào phân - biệt những nghĩa khác nhau trong những tiếng ấy.” (Việt Nam văn phạm; tr. Có thể nói rằng, ngay từ rất sớm, HTĐÂ, ĐN trong TV đã được quan tâm lưu ý. Ở giai đoạn này, do những hạn chế về thời đại nên chưa có những công trình có tính lí luận, những công trình tập thể còn ít, chủ yếu là những công trình dựa trên sự nỗ lực, cố gắng và kinh nghiệm của một số học giả nên thành tựu nghiên cứu chưa nhiều, còn bỏ sót nhiều vấn đề liên quan đến HTĐÂ, ĐN trong TV song bước đầu đã hé mở những vấn đề lí luận như: (1) tầm quan trọng và cái khó của việc phân biệt những ĐVĐÂ thuần Việt và những ĐVĐÂ gốc Hán khi không có chữ Hán chú kèm, (2) HTĐÂ giữa từ toàn dân với từ địa phương, (3) việc chuẩn hóa chính tả, chữ viết, (4) sự xung đột giữa các loại văn tự đã và đang được sử dụng (chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ) trong việc nhận diện các ĐVĐÂ, ĐN của TV, (5) nhược điểm của chữ Quốc ngữ trong phản ánh các cách phát âm vùng miền, (6) phân biệt những ĐVĐÂ với những ĐVĐN. Từ sau 1945 đến 1975, HTĐÂ, ĐN tiếp tục nhận được sự quan tâm của các nhà Việt ngữ học.
Khảo sát những công trình này chúng tôi nhận thấy, trong khi các học giả phía Nam vẫn tuân theo tôn chỉ chuẩn hóa chính tả, chữ viết và góp phần truyền bá chữ Quốc ngữ là chính thì các học giả phía Bắc lại có xu thế nghiêng nhiều về lí luận. Những quan điểm có tính lí luận ở giai đoạn này phần lớn là về vấn đề từ điển học. Đáng chúý là các công trình và quan điểm sau: Năm 1947, ở Sài Gòn có Đồng âm vận tuyển của Trần Văn Khải [68]. Tiến bộ hơn Nguyễn Văn Mai, Trần Văn Khải đã phát hiện và chỉ ra những nhược điểm, những bất cập của chữ Quốc ngữ trong việc ghi âm, thể hiện giọng nói của ba miền.
Tác giả đã rất chú trọng đến thao tác so sánh đối chiếu và chọn mẫu trong việc thu thập ngữ liệu: “trong quyển từ điển nầy, chúng tôi đối chiếu các tự điển ở ba kỳ và chọn lấy cách viết của phần đông, hầu ngày sau điển - chế và thống - nhứt văn – tự Việt – Nam” (Phàm lệ). Trần Văn Khải cũng đã có những cải tiến, sáng tạo hơn về phương pháp biên soạn, điều này thể hiện ở phương pháp sắp xếp các ĐVĐÂ của tác giả: thứ nhất, sau mỗi một đầu mục từ hay sau 7 mỗi một hình vị được giải thích đều có đánh số Ả-Rập chỉ rõ những từ hay hình vị ĐÂ trong đầu mục ấy. Thứ hai, nghĩa của những hình vị ĐÂ được cho vào ngoặc đơn để phân biệt với hình vị được giải thích. Sau cùng, là việc liệt kê những kết hợp từ có chứa hình vị được giải thích.(Yêu) : ân ái ; ái chủng ; ái đái ; ái hộ ; ái hữu ; ái kỷ ; ái quốc ; ái sủng ; ái tình ; bác ái ; bể ái ; luyến ái.
Êm ái ; ái đau ; ái ôi. Nghĩa của các từ hay các hình vị ĐÂ được thống kê và giải thích trong Đồng âm vận tuyển khá rõ ràng và chính xác, nhất là các hình vị Hán Việt. Theo thống kê của LA, ngoài 3647 hình vị và từ được đưa ra giải thích còn có phần Câu rời là phần thu thập thêm những kết hợp từ có chứa những hình vị được giải thích trong các mục từ trước đó và những chữ dễ gây nhầm lẫn với hình vị được đưa ra giải thích. Phần này được tác giả cấu tạo thành những câu thơ lục bát nhằm mục đích giúp người học dễ học, dễ nhớ, dễ phân biệt.
Chẳng hạn, án và áng được tác giả phân biệt như sau: “Án binh, hương án, án quan Áng công danh, với áng chiến trường có g” (Đồng âm vận tuyển; tr. Ngoài việc thu thập giải thích các hình vị Hán Việt, thuần Việt, Đồng âm vận tuyển còn thu thập, giải thích cả những hình vị ĐÂ gốc Pháp. Năm 1951, có Tự- điển Việt- Nam phổ- thông của Đào Văn Tập [118]. Công trình này vẫn bộc lộ khá nhiều nhược điểm ở các khâu xác định nghĩa, sắp xếp nghĩa, phân biệt các ĐVĐN với các ĐVĐÂ.
Chẳng hạn: khi xác định nghĩa của hình vị Hán Việt 白(bạch) tác giả đã gán thêm cho nó nghĩa của hình vị bạch trong các kết hợp như: bạch đinh, bạch thủ, trinh bạch khi quan niệm hình vị này ngoài cái nghĩa là “sắc trắng” ra còn có nghĩa là “sạch sẽ, sáng sủa; trắng trơn, không có của cải, không có chức tước” (Tự- điển Việt- Nam phổ- thông; tr 27). Về việc xử lí các ĐVĐÂ, Đào Văn Tập đã đem tất cả các ĐVĐÂ mà ngày nay được dán nhãn là “ĐÂ được cấu tạo theo kiểu chuyển loại” như: cuốc (dt) <-> cuốc (đgt); bào (dt) <-> bào (đgt). nhập chung vào một mục từ ĐN. (Tự- điển Việt- Nam phổ- thông; tr.
8 Năm 1969, đáng chú ý là quan điểm phân loại từ ĐN và từ Đ của Hoàng Phê [104, tr. Ông cho rằng: “phân biệt HT từ nhiều nghĩa với HT từ Đ là một vấn đề khó khăn. Nhiều khi rất khó quyết định nên coi đây là một từ nhiều nghĩa hay là nên tách ra thành mấy từ ĐÂ. Trong từ điển phổ thông, nếu quan hệ giữa các nghĩa ngày nay không rõ ràng lắm, thì tốt hơn là tách ra thành Đ”.
Năm 1969, Đỗ Hữu Châu [17, tr.43-50] thông qua quá trình khảo sát việc giải thích nghĩa của các ĐV từ trong TĐTV 1967 (Văn Tân chủ biên) đã thể hiện quan điểm và phương pháp xử lí nghĩa của mình đối với các ĐVĐN. Đây là một công trình thể hiện rõ những vấn đề lí luận ở giai đoạn này. Trong phần thứ nhất của bài viết, ông nhấn mạnh tầm quan trọng và những khó khăn của việc biên soạn từ điển một thứ tiếng, đặc biệt là những khó khăn trong việc giải thích nghĩa của từ TV và khẳng định: “điều quan trọng nhất là tính hệ thống trong cách làm việc”. Ở phần thứ hai, ông chỉ ra những nhược điểm thường thấy trong những quyển từ điển của ta trước đó.
Trong đó, nhược điểm lớn nhất theo ông là “rời rạc, thiếu tính hệ thống”. Nhược điểm này thể hiện ở ba điểm sau: (1) Bộc lộ ở cách sắp xếp theo thứ tự chữ cái mà hệ quả của nó là “không thể giúp cho người đọc thấy được những mối quan hệ giữa các ĐV từ vựng [.] cho rằng từ vựng chỉ là một tập hợp hỗn độn những ĐVcô lập với nhau”.(2) Bộc lộ ở cách giải thích các nghĩa khác nhau cho cùng một ĐV từ vựng mà hệ quả của nó là “người đọc từ cách giải thích đó thường không thấy được mối quan hệ giữa các nghĩa ấy như thế nào”. (3) Bộc lộ ở cách tách từ ĐÂ và tách nghĩa của từ với những biểu hiện sau: ở những từ có cấu trúc ngữ nghĩa giống nhau thì trong trường hợp A được tách thành 04 hay 05 nghĩa nhưng ở trường hợp B lại gộp thành 01 hay 02 nghĩa. Có khi, với hai nghĩa khác nhau của cùng một từ, tác giả tách làm hai từ nhưng ở một từ khác tương tự lại được nhập làm một như trường hợp các từ băng, đèn, bay.
Trong phần thứ ba, ông trình bày quan điểm của mình về cơ sở phân tách nghĩa của từ, các nguyên tắc cần chú ý khi giải thích nghĩa của từ trong từ điển. Tác giả đưa ra 02 nguyên tắc và 03 tiêu chuẩn khi giảng nghĩa của các từ như sau: 9 Nguyên tắc thứ nhất, “khi xử lí một ĐV từ vựng nào đó về mặt nghĩa cần chú ý đến các HT giống nhau xảy ra trong toàn nhóm, tránh tình trạng cô lập đối tượng. […] Vì việc tách một ĐV thành những từ riêng rẽ có liên quan tới lí luận về ranh giới giữa HT nhiều nghĩa và HTĐ”. Đỗ Hữu Châu đề ra tiêu chuẩn tách từ Đ như sau: “nếu HT chuyển nghĩa xảy ra một cách cá biệt mà ngày nay không thể giải thích mối quan hệ giữa nghĩa ấy với các nghĩa khác của từ thì có thể tách nghĩa ấy thành một từ Đ hay một quán ngữ.
Không thể tách các từ ĐÂ nếu HT chuyển nghĩa đó xảy ra giống nhau trong cả một loạt từ. Còn đối với các HT cá biệt thì việc có tách thành từ ĐÂ hay không là tùy vào cách xử lí của người biên soạn và việc ấy không có ảnh hưởng gì tới toàn hệ thống”. Nguyên tắc thứ hai, “khi xử lí một từ cần nêu được thuộc tính thường trực tổ chức và chi phối các nghĩa khác nhau của từ đó”. Theo Đỗ Hữu Châu, “đối với các từ một nghĩa thì việc so sánh nó với các từ khác cùng nhóm (trái nghĩa, đồng nghĩa) là điều quan trọng.