MỞ ĐẦU PHẦN 2: NỘI DUNG Chƣơng 1: Cơ sở lý luận Chƣơng 2: Đặc điểm thành ngữ có yếu tố chỉ một số bộ phận cơ thể ngƣời trong tiếng Việt và tiếng Hàn Chƣơng 3: Đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa của thành ngữ có yếu tố chỉ một số bộ phận cơ thể ngƣời trong tiếng Việt và tiếng Hàn PHẦN 3: KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO 11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Khái niệm và tính chất thành ngữ Tất cả các ngôn ngữ trên thế giới đều chứa đựng trong nó những yếu tố thành ngữ dù ít hay nhiều. Thành ngữ cũng là đơn vị phổ biến của mỗi ngôn ngữ. Vậy thành ngữ là gì có tính chất ra sao? 1.
Khái niệm thành ngữ 1. Thành ngữ tiếng Việt Từ xƣa đến nay thành ngữ trở thành đối tƣợng đƣợc tìm hiểu nghiên cứu của nhiều học giả, các nhà ngôn ngữ học và một số ngành khoa học. Theo đó, đến này cũng có nhiều quan điểm khác nhau về thành ngữ. Trong "Từ điển Giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học" (1996), thành ngữ đƣợc hiểu: "Là cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác với tổng số ý nghĩa của các yếu tố cấu thành nó tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt ở trong câu" [tr.
Trong khi đó, nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Nguyễn Thiện Giáp [2009] cho rằng: "Thành ngữ là những cụm từ mà trong cơ cấu cú pháp và ngữ nghĩa của chúng có những thuộc tính đặc biệt, chỉ có ở cụm từ đó. Nói cách khác, thành ngữ là một cụm từ mà ý nghĩa của nó không được tạo thành từ ý nghĩa của các từ cấu tạo nên nó. Ngay cả khi biết nghĩa của tất cả các từ trong đó vẫn chưa thể đoán chắc nghĩa thành ngữ của cả cụm từ đó". Với nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Đỗ Hữu Châu, thành ngữ đƣợc hiểu: "Là cụm từ cố định mà các từ trong đó đã mất tính độc lập, kết hợp lại với nhau thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh, khó có thể thay đổi được".
Ở một khía cạnh khác, nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Hoàng Văn Hành định nghĩa về thành ngữ nhƣ sau: "Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái cấu trúc, hoàn chỉnh bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hằng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ. Thành ngữ thường biểu hiện một khái niệm tương đương như đơn vị từ được dùng để tạo thành phần câu như từ, hay nói cách khác, nó có chức năng như từ; nguời ta có thể thay thể một thành ngữ bằng một từ tương ứng với nó trong câu". [Hoàng Văn Hành 4, tr.35] 12 Từ những trình bày trên đây cho thấy, dù có định nghĩa thành ngữ ở khía cạnh nào đi chăng nữa thì chung quy có thể xem, thành ngữ là những cụm từ cố định, là đơn vị có sẵn trong kho từ vựng, có chức năng định danh tức gọi tên sự vật và phản ánh khái niệm một cách gợi tả và bóng bẩy. Với những đặc điểm trên thì thành ngữ đã trở thành đơn vị thƣờng dùng, có khả năng giao tiếp.
Ngoài đặc điểm của một đơn vị ngôn ngữ, thành ngữ còn tồn tại những dấu ấn của một đơn vị văn hóa, tiềm ẩn những đặc điểm văn hóa dân tộc. Chính vì điều đó nên có thể xem thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ - văn hóa. Trong phạm vi luận văn này chúng tôi xin phép đƣợc chia sẻ và lấy quan điểm về thành ngữ trong tiếng Việt của nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Hoàng Văn Hành làm nòng cốt để thực hiện luận văn. Thành ngữ tiếng Hàn Khái niệm thành ngữ trong tiếng Hàn không thể định nghĩa đƣợc một cách dễ dàng.
Những từ tƣơng đƣơng với “thành ngữ” của phƣơng Tây đƣợc dịch ra nhiều hình thái đa dạng và không thống nhất nhƣ: thành ngữ, quán dụng ngữ,… và vẫn chƣa thể hệ thống hóa đƣợc tên gọi khái niệm bằng tiếng Hàn về thuật ngữ “thành ngữ”. Tuy nhiên, khi căn cứ vào định nghĩa trong từ điển và các nghiên cứu trƣớc đây chúng ta có thể thấy đƣợc giữa “thành ngữ” trong tiếng Việt và “관용어” trong tiếng Hàn có những điểm chung nhất định về ngữ pháp cũng nhƣ về ý nghĩa cấu tạo. Khi xét về mặt cú pháp, chúng đều đƣợc hình thành bởi các cụm từ hoặc câu do 2 từ trở lên mang ý nghĩa kết hợp thành Nếu xét về mặt ý nghĩa thì chũng là một chuỗi các cụm từ đã đƣợc ổn định hóa mang ý nghĩa ẩn dụ và mang nghĩa bóng, ý nghĩa đặc thù không thể phán đoán đƣợc về mặt ngữ pháp hoặc ý nghĩa của từng từ cơ bản. Vì vậy, trong luận văn này chúng tôi gọi 관요어 là thành ngữ để thống nhất cho việc đối chiếu giữa tiếng Việt và tiếng Hàn.
Khi nói đến thành ngữ(관용어)trong tiếng Hàn, chúng tôi xin chia sẻ quan điểm của các nhà học giả rất quan tâm và tâm huyết khi nghiên cứu về vấn đề này 13 박진수(1986)는 [국어 관용어 연구]에서 관용어는 의미적으로 구성요소의 의미 합과는 다른 새로운 의미를 가지며, 구조적으로는 구절 이상의 통사적 형태를 취한 어휘단위라고 본다. Theo học giả Park Jin Su (1986) trong "Nghiên cứu thành ngữ tiếng Hàn" thì thành ngữ mang ý nghĩa mới khác hẳn với nghĩa của các từ cấu thành về mặt nghĩa, về mặt cấu trúc nó là đơn vị từ vựng cấu tạo thành mệnh đề. 홍미랑(1989)은 [국어 관용어의 의미구조 연구]에서 관용어는 구성요소의 의미가 전이되고 화석화되어 새로운 의미를 가지고 있으며, 융합 복합어의 일부의 구절 형태를 취하는 것이다. Trong khi đó học giả Hong Mi Rang (1989), trong "Nghiên cứu cấu tạo ý nghĩa thành ngữ tiếng Hàn" đã định nghĩa: Thành ngữ mang ý nghĩa mới bởi sự chuyển đổi nghĩa của các yếu tố từ cấu thành trong khi kết hợp, và cố định hóa nghĩa đó thành khái niệm mới, và khi đó thành ngữ có hình thái mệnh đề như một phần của từ ghép.
박영수(1985) 두 개 이상의 단어로 결합된 언어형태로서 비윤리적이고 탈문법적이지만 언중들 사이에서 보편적으로 통용되는 특수한 말. 구조적으로는 두 단어 이상이 결합된 복수구조지만 의미론적으로는 단일 의미를 가지며 개개 단어의 의미의 결합이 아닌 제 3 의 의미를 가지는 특수 언어이다. Còn Park Yeong Su (1985) cho rằng: Thành ngữ đƣợc kết hợp bởi hai từ vựng trở lên dù không theo một quy luật cố định nào nhƣng vẫn là „Ngôn ngữ đặc trƣng‟ đƣợc dùng phổ biến trong cộng đồng. Về mặt cấu trúc, thành ngữ là cấu trúc số nhiều đƣợc hình thành bởi hai từ vựng trở lên nhƣng, về mặt ý nghĩa thành ngữ lại là „Ngôn ngữ đặc trƣng‟ mang một nghĩa duy nhất khác hẳn với nghĩa của từng yếu tố từ đƣợc kết hợp để tạo ra nó.
14 최경봉(1992) 관용어는 단일한 의미를 창출하는 둘이상 자립성분의 어휘복합체이면서 구성 어휘성분의 의미가 살아있지 않은언어단위이고, 비유적 표현이 대중성을 얻어 익은 형태로 통용되는 것이다. Một học giả nổi tiếng trong lĩnh vực nghiên cứu về thành ngữ là Choi Kyung Bong (1992) đã định nghĩa: Thành ngữ trong khi là tổ hợp những từ vựng mang chức năng độc lập kết hợp tạo ra ý nghĩa duy nhất, vừa là đơn vị ngôn ngữ không mang ý nghĩa của từng thành phần từ vựng cấu thành mà mang ý nghĩa ẩn dụ có tính đại chúng và đƣợc sử dụng rộng rãi. Mặc dù có rất nhiều quan niệm khác nhau về thành ngữ nhƣng đều có điểm chung, đó là các yếu tố cấu thành thành ngữ không mang ý nghĩa cơ bản, nghĩa đen mà mang nghĩa bóng. Hầu hết các nhà nghiên cứu đều đồng tình về điểm này nhƣng vẫn chƣa thể hệ thống hóa đƣợc tên gọi và khái niệm bằng tiếng Hàn Quốc về thuật ngữ "thành ngữ" của phƣơng Tây.
Tuy nhiên đến bây giờ, căn cứ vào định nghĩa trong từ điển và các nghiên cứu trƣớc đây về thành ngữ, chúng ta có thể định nghĩa về thành ngữ nhƣ sau: "Thành ngữ là cách biểu đạt đặc biệt của ngôn ngữ một quốc gia nào đó đƣợc dùng nhƣ một thói quen mang tính phổ biến và tính đại chúng, mặc dù có những lúc nó mang tính phi lôgic và phi ngữ pháp". Xét về mặt cú pháp, thành ngữ đƣợc hình thành bởi các cụm từ hoặc câu do hai từ trở lên mang ý nghĩa kết hợp thành. Xét về mặt ý nghĩa, thành ngữ là một chuỗi các cụm từ đã đƣợc ổn định hóa mang ý nghĩa ẩn dụ và mang nghĩa bóng, ý nghĩa đặc thù không thể phán đoán đƣợc về mặt ngữ pháp hoặc ý nghĩa của từng từ cơ bản. Các tính chất của thành ngữ 1.
Tính chất của thành ngữ Tiếng Việt Nhƣ trên đã trình bày, thành ngữ là một tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái - cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa qua đó đã cho ta thấy đƣợc rõ ràng hai đặc tính đang tồn tại trong thành ngữ, đó là: a. Tính cố định về hình thái - cấu trúc của thành ngữ Điều này đƣợc thể hiện ở những đặc điểm sau: 15 Một là, thành phần từ vựng của thành ngữ, nói chung là ổn định, nghĩa là, các yếu tố tạo nên thành ngữ hầu nhƣ đƣợc giữ nguyên trong sử dụng, mà trong nhiều trƣờng hợp không thể thay thế bằng các yếu tố khác. Chẳng hạn, phải nói chân đăm đá chân chiêu, chứ không đƣợc nói chân phải đá chân trái, mặt dù, đăm tiếng Việt cổ có nghĩa là phải, chiêu có nghĩa là trái. Hai là, tính bền vững về cấu trúc của thành ngữ thể hiện ở sự cố định về trật tự các yếu tố tạo nên thành ngữ.
Ví dụ, chúng ta thƣờng nói cứng đầu cứng cổ, chứ không nói hoặc rất ít ngƣời nói cứng cổ cứng đầu, hoặc tai to mặt lớn, không nói hoặc ít nói mặt lớn tai to. Tính ổn định, cố định về thành phần từ vựng và cấu trúc của thành ngữ hình thành là do thói quen sử dụng của ngƣời bản ngữ. Tính hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa Thành ngữ biểu thị những khái niệm hoặc biểu tƣợng trọn vẹn về các thuộc tính, quá trình hay sự vật. Nói cách khác, thành ngữ là những đơn vị định danh của ngôn ngữ, ví dụ: há miệng mắc quai - ở trạng thái khó nói vì tự mình đã gây ra nhiều điều gay cấn.
Nhƣng, khác với các đơn vị từ vựng bình thƣờng, thành ngữ là loại đơn vị định danh bậc hai, nghĩa là nội dung của thành ngữ không hƣớng tới điều đƣợc nhắc đến trong nghĩa đen của các từ ngữ tạo nên thành ngữ mà ngụ ý điều gì đó suy ra từ chúng, ví dụ, cá nằm trên thớt không phải miêu tả con cá đang nằm trên thớt mà ngụ ý nói đến trạng thái nguy hiểm đến sự sống còn. Đó là nghĩa bóng hay nghĩa biểu trƣng đƣợc hình thành nhờ quá trình biểu trƣng văn hóa.