CHƯƠNG 1 THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT VÀ THÀNH NGỮ TIẾNG NHẬT 1. Nhận diện thành ngữ 1. Thành ngữ tiếng Việt Việc nghiên cứu thành ngữ từ trước đến nay đã được rất nhiều nhà Việt ngữ học quan tâm, từ các nhà nghiên cứu văn học dân gian cho đến các nhà ngôn ngữ học. Dưới góc nhìn ngôn ngữ học, thành ngữ là một đơn vị của ngôn ngữ.
Theo cách phân bậc các đơn vị ngôn ngữ từ thấp đến cao thì thành ngữ nằm ở bậc cụm từ cố định, trên từ và dưới câu. Vậy thành ngữ là gì? Theo “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học (1996)”: “ thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác với tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt ở trong câu”. Theo tác giả Đỗ Hữu Châu biên soạn giáo trình Từ vựng- ngữ nghĩa Tiếng Việt, tác giả định nghĩa thành ngữ như sau: “ Cho một tổ hợp có nghĩa S do các đơn vị A, B, C…mang ý nghĩa lần lượt s{1}, s{2}, s{3}…tạo nên nếu như nghĩa S không thể giải thích bằng các ý nghĩa s{1}, s{2}, s{3}… thì tổ hợp A, B, C có tính thành ngữ”. Ví dụ: “ Hết nước hết cái” là tổ hợp có tính thành ngữ vì ý nghĩa “quá dài, quá mức chịu đựng, bực dọc, sốt ruột” của nó không thể giải thích được bằng các nghĩa của “ hết nước, hết cái”… Dĩ nhiên tính thành ngữ có những mức độ từ thấp đến cao khác nhau.
“ Ba hoa thiên tướng” có tính thành ngữ thấp hơn “ Ba chìm bảy nổi”, “ Ba chìm bảy nổi” có tính thành ngữ thấp hơn “ Ba cọc ba đồng”… Khi bàn về thành ngữ, các nhà Việt ngữ học thường đem phân biệt thành ngữ với từ ghép, cụm từ tự do, quán ngữ, tục ngữ,…Theo chúng tôi, ngoại trừ những trường hợp biệt lệ như : mát tay, xấu bụng, non dạ, …sự khác biệt giữa thành ngữ và từ ghép, cụm từ tự do, quán ngữ là khá rõ ràng. Điều quan trọng là cần phải phân biệt thành ngữ và tục ngữ. Đây cũng là một trong những mũi nhọn được các nhà nghiên cứu tập trung cao độ khi bàn về khái niệm thành ngữ bởi vì thành ngữ và tục ngữ đều là những cụm từ cố định, chặt chẽ về cấu trúc hình thái, có tính bóng bẩy và gợi tả. Và trên thực tế có những giáp ranh khó có thể phân định rõ ràng.
Về hai loại đơn vị này, có nhiều ý kiến khác nhau. 8 Trong bài “ Góp ý kiến phân biệt thành ngữ và tục ngữ”, Cù Đình Tú sử dụng tiêu chí chức năng để phân biệt thành ngữ và tục ngữ. Ông quan niệm: “Thành ngữ là những đơn vị có sẵn, mang chức năng định danh, nói khác đi dùng để gọi tên sự vật, tính chất, hành động…” và “ Tục ngữ đứng về mặt ngôn ngữ học có chức năng khác hẳn so với thành ngữ. Tục ngữ cũng như các sáng tạo khác của văn học dân gian như ca dao, truyện cổ tích đều là các thông báo.
Nó thông báo một nhận định, một kết luận về một phương diện nào đó của thế giới khách quan. Do vậy, mỗi tục ngữ đọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý tưởng. Đó cũng là lí do giải thích vì sao tục ngữ có cấu tạo là các kết cấu hai trung tâm.” Nguyễn Văn Mệnh thì quan niệm: “thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ có sẵn. Chúng là những ngữ có kết cấu chặt chẽ và ổn định, mang một ý nghĩa nhất định, có chức năng định danh và được tái hiện trong giao tế.” Tác giả phân biệt thành ngữ và tục ngữ như sau: Xét về nội dung “thành ngữ giới thiệu một hình ảnh, một hiện tượng, một trạng thái, một tính cách, một thái độ…Tục ngữ thì khác hẳn, nó không dừng lại ở mức độ giới thiệu hình ảnh, hiện tượng…như thành ngữ mà đi đến một nhận định cụ thể, một kết luận chắc chắn, một kinh nghiệm sâu sắc, một lời khuyên răn, một bài học về tư tưởng, đạo đức….
Và từ đó ông nhận xét chính sự khác nhau về nội dung như trên đã dẫn đến sự khác nhau về hình thức ngữ pháp, về năng lực hoạt động trong chuỗi lời nói và cả sự khác nhau về số lượng tuyệt đối nữa. Nguyễn Thiện Giáp lại căn cứ vào ba đối lập để phân biệt từ, ngữ, thành ngữ, quán ngữ, tục ngữ và kết cấu tự do. Ba đối lập đó là: (1) Tính bền vững hay không bền vững của kết cấu. (2) Tính thống nhất hay tách rời về nghĩa.
(3) Tính võ đoán hay tính lí do của nghĩa. Ông lập bảng phân biệt. Theo đó, thành ngữ mang tính bền vững về kết cấu, có thể có sự thống nhất hoặc không thống nhất về nghĩa, mang tính võ đoán về nghĩa; còn tục ngữ chỉ có điểm khác so với thành ngữ là nó không có sự thống nhất về nghĩa. Theo Nguyễn Thiện Giáp, “ Tục ngữ là những kết cấu cố định, diễn đạt rất hoàn hảo toàn bộ kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử- xã hội của nhân dân lao động…Nội dung của tục ngữ là những kinh nghiệm được rút ra trong quá trình đấu tranh thiên nhiên và đấu tranh xã hội, được thể hiện nhiều lần trong thực tiễn và dường như đã trở nên những chân lí có tính chất phổ biến, được toàn thể nhân dân công nhận.
Vì vậy, tính tái hiện của tục ngữ trước hết là sự tái hiện của những kinh nghiệm, những chân lí phổ biến ấy. Tính tái hiện về thành phần, cấu trúc là hậu quả nhu cầu tái hiện nội dung của tục ngữ”. Còn đối với thành ngữ, Nguyễn Thiện Giáp cho rằng “ thành ngữ là đơn vị trung gian giữa một bên là các quán ngữ và một bên là tục ngữ. Tính chất trung gian này thể hiện ở chỗ thành ngữ cũng là đơn vị định danh, cũng là tên gọi của một sự vật, hiện tượng, là sự thể hiện một khái niệm (có tính chất 9 thống nhất về nghĩa).
Đồng thời nghĩa cộng lại của các thành tố theo quy luật ngữ pháp cũng cần được hiểu (tính tách rời về nghĩa). Chính sự tồn tại của hai cách hiểu như vậy mà nghĩa chung của thành ngữ bao giờ cũng là nghĩa hình tượng”. Và ông nhấn mạnh: “Có thể nói nghĩa định danh hình tượng là đặc trưng cơ bản của thành ngữ”. Tóm lại, có thể tổng hợp sự khác nhau giữa thành ngữ và tục ngữ trong bảng sau: Bảng 1: Các mặt khác biệt giữa thành ngữ và tục ngữ Các mặt Thành ngữ Tục ngữ khác biệt - Là sự miêu tả một hình - Là những lời khuyên răn về đối ảnh, một hành động, một nhân xử thế, là những bài học kinh tính chất hoặc một trạng nghiệm về lao động sản xuất, về nhận thái.
Nội dung thiên về thức thế giới tự nhiên và đời sống xã Về ý nghĩa những cái có tính chất ngẫu hội. Nội dung mang tính bản chất, nhiên, riêng lẻ. khái quát, tất yếu, quy luật. - Nghĩa toàn khối.
- Nghĩa kết hợp của nghĩa từng từ cấu tạo nên nó. - Mang chức năng định - Mang chức năng thông báo: danh: gọi tên sự vật, tính thông báo một nhận định, một kết chất, hành động,…Về mặt luận về một phương diện của thế giới chức năng có thể nói thành khách quan. Tục ngữ dù nhỏ đến đâu ngữ tương đương với từ. Dù cũng đảm nhiệm chức năng này một lớn đến đâu cũng khôn thể cách hoàn chỉnh.
Ví dụ: tức nước vỡ nêu lên một thông báo. bờ nêu lên một quy luật trong đời Chẳng hạn thành ngữ Chó sống xã hội; “có áp bức, có đấu Về chức ngáp phải ruồi chỉ diễn đạt tranh”. Ao sâu tốt cá nêu lên một quy năng việc gặp may một cách luật trong sản xuất, Tham thì thâm ngẫu nhiên, hoặc việc gì hú nêu lên một quy luật trong đời sống: hoạ, chẳng mấy khi xảy ra; càng tham lam thì càng nhận được thành ngữ Tay dùi đục, những kết quả xấu, v. chân bàn chổi miêu tả dáng hình chân tay thô vụng, xấu xí, v.
- Là một ngữ, một cụm từ - Là một câu hoàn chỉnh. Về cấu tạo cố định, rất ít thành ngữ có 10 cấu tạo là một câu. - Không bao chứa tục ngữ. - Có thể bao chứa thành ngữ.
Tục ngữ có thể được cấu tạo bằng những thành phần chức năng là thành ngữ. Ví dụ: Cơm hàng cháo chợ ai nỡ thì ăn có bộ phận Cơm hàng cháo chợ là thành ngữ, Chết sông chết suối ai chết đuối đọi đèn có bộ phận Chết đuối đọi đèn là thành ngữ, v.v Về đặc điểm - Được dùng làm bộ phận - Có khả năng độc lập để tạo câu, vận dụng để tạo thành câu. cũng có khi dùng làm một bộ phận để trong lời nói tạo câu. Trên đây là những tiêu chí chủ yếu giúp chúng ta phân biệt phần lớn các thành ngữ, tục ngữ trong tiếng Việt.
Tuy nhiên, ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ không phải là một đường kẻ thẳng tắp. Nói như Nguyễn Văn Mệnh trong “Về ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ: “Xen giữa những cột mốc biên giới ta vẫn thấy có những miền đất xâm canh, những lùm cây mà gốc ở phương Nam xòe sang phương Bắc”. Ngay cả các tác giả của “ Từ điển thành ngữ Việt Nam (Nguyễn Như Ý chủ biên) cũng phải thừa nhận trong gần 8000 thành ngữ đã thống kê thì “bao gồm một vài đơn vị chưa xác định rõ là thành ngữ hay tục ngữ, một vấn đề còn bỏ ngỏ trong Việt ngữ học”. Chu Xuân Diên cũng nói: “Với tư cách là một hiện tượng ngôn ngữ, tục ngữ còn có những đặc điểm rất gần với thành ngữ.
Điều đó khiến cho tục ngữ và thành ngữ đã nhiều khi xảy ra hiện tượng không có sự phân biệt, không những về cách dùng mà cả về quan niệm nữa”. Và quả thật, hiện nay vẫn còn nhiều trường hợp không biết đâu là thành ngữ, đâu là tục ngữ. Cùng một trường hợp, có tác giả cho là thành ngữ, có tác giả lại cho là tục ngữ. Ví dụ: Tre già măng mọc, Lệnh ông không bằng cồng bà, Sống lâu lên lão làng,…Có khi lại cho vừa là thành ngữ vừa là tục ngữ như Hoàng Tiến Tựu trong Văn học Việt Nam: “mặt sứa gan lim, ruộng sâu trâu nái, mèo mả gà đồng,…ít nhiều đều mang tính chất lưỡng tính” (vừa là tục ngữ vừa là thành ngữ).