Phần mở đầu Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Gồm những nội dung: một số lý thuyết về DNNVV, các thành phần liên quan đến hoạt động kinh doanh của DNNVV như: năng lực nội tại của doanh nghiệp, yếu tố vốn, chính sách vĩ mô, chính sách địa phương. Mô hình nghiên cứu liên quan. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu Gồm những nội dung: trình bày phương pháp nghiên cứu chi tiết, kết quả nghiên cứu định tính, hiệu chỉnh thang đo, thông tin mẫu. Phân tích dữ liệu và trình bày kết quả phân tích dữ liệu Chƣơng 3: Giải pháp và khuyến nghị Gồm những nội dung: tóm tắt và thảo luận kết quả nghiên cứu, đóng góp của đề tài, ý nghĩa thực tiễn của đề tài và đề xuất một số giải pháp áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
Phần kết luận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Khái quát về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1Khái niệm Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. DNNVV có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 người. Mỗi nước thường có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước mình ví dụ như ở Đức, DNNVV được định nghĩa là những doanh nghiệp có số lao động dưới 500 người, trong khi đó ở Bỉ là 100 người.
Nhưng cho đến nay Liên minh Châu Âu (EU) đã có khái niệm về DNNVV chuẩn hóa hơn. Những doanh nghiệp có dưới 50 lao động được gọi là doanh nghiệp nhỏ còn những doanh nghiệp có trên 250 lao động được gọi là những doanh nghiệp vừa. Ngược lại, ở Mỹ những doanh nghiệp có số lao động dưới 100 người được gọi là doanh nghiệp nhỏ, dưới 500 người là doanh nghiệp vừa. Ở Việt Nam, theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, khái niệm DNNVV được định nghĩa như sau “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành 3 cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo qui mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiêp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Tiêu chí phân loại doanh nghiệp tại Việt Nam Doanh Quy mô nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Số Tổng nguồn Tổng nguồn Số lao Khu vực Số lao động lao động vốn vốn động I.Nông, 10 người 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 lâm nghiệp trở xuống trở xuống người đến tỷ đồng đến người đến và thủy sản 200 người 100 tỷ đồng 300 người II.Công 10 người 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên nghiệp và trở xuống trở xuống người đến tỷ đồng đến 200 người xây dựng 200 người 100 tỷ đồng đến 300 người III.Thương 10 người 10 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 10 Từ trên 50 mại và dịch trở xuống trở xuống người đến tỷ đồng đến người đến vụ 50 người 50 tỷ đồng 100 người Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ 1.2 Đặc điểm Loại hình doanh nghiệp này được phát triển ở hầu hết tất cả các vùng, miền của đất nước, có thể huy động và sử dụng mọi nguồn lực.
Phần lớn sản phẩm của DNNVV nhằm phục vụ tại chỗ, đáp ứng được phần lớn nhu cầu của các thành phần trong xã hội. DNNVV có quy mô tương đối nhỏ nên dễ dàng điều chỉnh hoạt động, chuyển hướng kinh doanh, thích ứng nhanh với sự thay đổi của thị trường góp phần làm cho nền kinh tế linh hoạt hơn. Quy mô lao động, vốn và doanh thu hạn chế vì vậy dễ dàng lâm vào tình trạng phá sản. Do dó thường xuyên được chính phủ hỗ trợ về nhiều mặt thông qua các chính sách, công cụ tài chính.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 Thu hút một lượng lao động lớn, phần lớn là lao động có trình độ trung bình và thấp. Bên cạnh đó đội ngũ quản lý của DNNVV có trình độ hạn chế thường điều hành theo kinh nghiệm, tập quán và bản năng vì vậy chưa có tầm nhìn chiến lược, khả năng xâm nhập thị trường nước ngoài còn nhiều hạn chế. Sức cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm, dịch vụ còn thấp. Nguyên nhân là do trình độ công nghệ thấp dẫn đến chất lượng sản phẩm không cao, mẫu mã không đa dạng khiến giá trị gia tăng của sản phẩm thấp.
Hạn chế về thông tin, hạn chế về vốn… sự bảo hộ của Nhà nước với các doanh nghiệp nhà nước làm hạn chế năng lực cạnh tranh của DNNVV. Quy mô nhà xưởng nhỏ hẹp, cơ sở vật chất và trình độ kỹ thuật yếu kém, lạc hậu, không đồng bộ dẫn đến khó khăn trong vấn đề ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào hoạt động sản xuất kinh doanh.3 Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam Trong 10 năm qua, nền kinh tế nước ta có những bước phát triển không ngừng và đã gặt hái được nhiều thành công. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao, ngay cả trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu, mức tăng trưởng bình quân đạt 7,2%/năm trong thời kỳ 2001-2010 (7,5% giai đoạn 2001-2005 và gần 7% giai đoạn 2006-2010). GDP bình quân đầu người theo giá thực tế vào năm 2010 ước khoảng 1.200USD do đó nước ta được xếp trong danh sách các quốc gia có thu nhập trung bình thấp, thu hẹp đáng kể khoảng cách phát triển so với các nền kinh tế khác trong khu vực.
Để đạt được thành quả đó, chúng ta phải thừa nhận sự đóng góp đáng kể của các DNNVV.1 DNNVV đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế tăng trƣởng và tăng thu nhập quốc dân DNNVV với quy mô nhỏ và vừa, mức độ đầu tư không lớn, linh hoạt và rất phù hợp cho phát triển kinh tế dân doanh. DNNVV là phương thức phù hợp và hữu hiệu để huy động nguồn lực từ nhân dân cho phát triển kinh tế. Từ năm 2001 đến tháng 6/2008 đã có 285.900 doanh nghiệp, chủ yếu là các DNNVV đã đăng ký mới, đưa tổng số doanh nghiệp trong cả nước lên 349.300 doanh nghiệp với tổng số vốn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 đăng ký trên 1. Từ năm 2005 đến nay, bình quân hàng năm khu vực DNNVV thuộc các thành phần kinh tế đóng góp hơn 45%GDP và riêng khu vực kinh tế tư nhân trong nước đã đóng góp 40%GDP hàng năm.
Nếu xét riêng ngành công nghiệp chế biến, về số lượng các DNNVV tập trung chủ yếu vào 9 ngành sau: sản xuất thực phẩm và đồ uống; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất; sản xuất các sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại khác; sản xuất các sản phẩm từ kim loại (trừ máy móc thiết bị), sản xuất, sửa chữa phương tiện vận tải khác; chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ; dệt; sản xuất trang phục; sản xuất các sản phẩm cao su và plastic. Gía trị sản lượng của 9 ngành này chiếm 70% tổng giá trị sản lượng của ngành công nghiệp chế biến. DNNVV hiện nay chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp trên toàn quốc. Trong đó phần lớn là doanh nghiệp dân doanh, đóng góp khoảng 26% tổng sản phẩm xã hội, 31% tổng giá trị sản lượng công nghiệp, 78% tổng mức bán lẻ, 64% tổng lượng vận chuyển hàng hóa.2 DNNVV đóng vai trò quan trọng trong vấn đề giải quyết việc làm cho ngƣời lao động Khi những DNNVV làm ăn phát đạt, mở rộng quy mô và thuê nhiều nhân công thì nền kinh tế sẽ phát triển và ngược lại, khi họ làm ăn thua lỗ và sa thải nhân công thì nền kinh tế sẽ rơi vào tình trạng suy thoái.
Do đó phát triển DNNVV giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Việt nam là nước đông dân, lại chủ yếu sống bằng nghề nông với thu nhập thấp, lao động dư thừa nhiều. Bên cạnh đó chính sách cắt giảm biên chế trong bộ máy nhà nước và khu vực doanh nghiệp, nhà nước đã làm cho lao động dư thừa ngày càng tăng. Hàng năm, nước ta có khoảng 1.000 người gia nhập lực lượng lao động.
Chính khu vực DNNVV đã giữ vai trò quan trọng trong việc giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê công bố cho thấy: DNNVV là nguồn tạo ra việc làm chủ yếu trong tất cả các lĩnh vực, chiếm trên 50,1% lực lượng lao động trong tất cả các loại hình doanh nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 DNNVV huy động mọi nguồn lực tiềm năng, tạo cơ hội cho mọi ngƣời kinh doanh Hoạt động của DNNVV thường bắt đầu với một nguồn vốn hạn hẹp mà chủ yếu là vốn nhàn rỗi trong dân cư. Các DNNVV thuộc các thành phần kinh tế đã thu hút phần lớn lao động tham gia vào sản xuất, mà chưa đòi hỏi lao động phải có trình độ cao, phải đào tạo nhiều thời gian.
Người lao động chỉ cần được bồi dưỡng hoặc đào tạo ngắn hạn là có thể tham gia sản xuất kinh doanh. Hiện nay, còn có nhiều tiềm năng trong dân chưa được khai khác, cụ thể như: tiềm năng về trí tuệ, tay nghề tinh xảo, lao động, vốn, bí quyết nghề nghiệp, điều kiện tự nhiên… Việc phát triển các DNNVV sản xuất các ngành nghề truyền thống ở nông thôn là một trong những hướng quan trọng để sử dụng tay nghề tinh xảo của các nghệ nhân, nhằm thu hút lao động nông thôn và phát huy lợi thế của từng vùng để phát triển kinh tế. Từ chỗ nguồn vốn ít, lao động thủ công cơ giới là chính, nên các nguồn nguyên liệu chủ yếu là khai thác và sử dụng tại chỗ, thuộc phạm vi địa phương. Nhờ vậy, khai thác và tận dụng được một cách triệt để các nguồn nguyên liệu phong phú và đa dạng của đất nước.4 Đóng góp vào ngân sách nhà nƣớc Nguồn thu ngân sách từ doanh nghiệp nhà nước hiện nay chiếm tỷ trọng lớn, nhưng tình hình hiện nay để có nguồn thu ngân sách nhà nước thì nhà nước cũng phải trợ cấp cho doanh nghiệp nhà nước.