CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN NIÊM YẾT 1. Khái quát về công ty cổ phần 1. Khái niệm công ty cổ phần CTCP ra đời là do yêu cầu tất yếu khách quan của nền đại công nghiệp - cơ khí, với trình độ khoa học kỹ thuật cao. CTCP có vai trò to lớn trong quá trình phát triển kinh tế, góp phần hoàn thiện cơ chế thị trường.
Luật Doanh nghiệp định nghĩa CTCP là doanh nghiệp trong đó: - Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; - Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; - Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; - Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; - CTCP có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán. Đặc điểm công ty cổ phần Không giống như những loại hình doanh nghiệp khác, CPCP có một số đặc điểm riêng như sau: - Vốn điều lệ của CTCP được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Người chủ sở hữu vốn cổ phần gọi là cổ đông. Mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phần; - CTCP có thể phát hành nhiều loại cổ phần, trong đó phải có cổ phần phổ thông.
Ngoài cổ phần phổ thông, công ty có thể phát hành cổ phần ưu đãi: cổ phần 7 ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi do điều lệ công ty quy định; - Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp đó là cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần của cổ đông sáng lập công ty trong 3 năm đầu kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận kinh doanh. Đặc điểm này của CTCP cho phép các nhà đầu tư có khả năng chuyển đổi hình thức và mục tiêu đầu tư một cách linh hoạt; - Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty. Đặc điểm này cho thấy các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn đối với phần vốn góp của mình vào công ty; - Công ty được quyền phát hành chứng khoán ra công chúng. Đặc điểm này cho thấy khả năng huy động vốn của công ty là rất lớn và rộng rãi trong công chúng; - Cổ đông của CTCP tối thiểu phải là ba và không hạn chế số lượng tối đa.
Trong quá trình hoạt động, CTCP được quyền phát hành chứng khoán ra công chúng và các cổ đông được quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình, vì vậy số lượng cổ đông của CTCP thường là rất đông. Các loại hình công ty cổ phần - CTCP nội bộ: là CTCP chỉ phát hành cổ phiếu trong số những người sáng lập ra công ty, những cán bộ công nhân viên trong công ty và các pháp nhân là những đơn vị trực thuộc những đơn vị trong cùng tập đoàn của đơn vị sáng lập. Đây là loại cổ phiếu ký danh không được chuyển nhượng hoặc chỉ được chuyển nhượng theo một số điều kiện nhất định trong nội bộ công ty. Việc tăng vốn của công ty rất hạn chế, chỉ được vay vốn từ các tổ chức tín dụng hoặc tích lũy từ trong nội bộ công ty.
- CTCP đại chúng: là CTCP có phát hành cổ phiếu rộng rãi trong công chúng, ngoài những đối tượng nội bộ đã nêu trong CTCP nội bộ. Phần lớn những CTCP mới thành lập đã bắt đầu như những CTCP nội bộ. Đến khi công ty đã phát triển, hội đủ điều kiện họ có thể phát hành cổ phiếu rộng rãi ra công chúng, trở thành một CTCP đại chúng. 8 Khi một CTCP lần đầu tiên phát hành cổ phiếu rộng rãi trong công chúng, người ta gọi công ty đó trở thành công cộng.
Theo quy định của Luật chứng khoán Việt Nam, công ty đại chúng là CTCP thuộc một trong ba loại hình sau đây: • Công ty đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng. • Công ty có cổ phiếu được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán. • Công ty có cổ phiếu được ít nhất 100 nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và có vốn điều lệ đã góp từ 10 tỷ đồng trở lên. - CTCP đại chúng niêm yết: Là loại hình CTCP đại chúng mà chứng khoán của công ty đã được niêm yết vào danh sách các chứng khoán được phát hành và mua bán tại Sở giao dịch chứng khoán.
Thông thường đó là những công ty có quy mô lớn, có nhiều cổ đông đại chúng, hoạt động kinh doanh có hiệu quả trong nhiều năm liên tục. Khi đã niêm yết chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoán, công ty phải chịu sự giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý Nhà nước về thị trường chứng khoán. Vai trò của công ty cổ phần trong nền kinh tế CTCP là hình thức kinh doanh phổ biến trong nền kinh tế thị trường, có vai trò to lớn trong quá trình phát triển kinh tế: - CTCP là một hình thức sản xuất kinh doanh có hiệu quả, góp phần thúc đẩy nền kinh tế nước ta hội nhập với nền kinh tế thế giới; - CTCP góp phần nâng cao năng lực quản lý của các nhà kinh tế; - CTCP tạo ra các công cụ để có thể huy động vốn nhanh chóng với quy mô lớn, hiệu quả cao, làm tăng khả năng áp dụng khoa học tiên tiến và sản xuất quy mô lớn; - CTCP tạo ra một cơ chế phân tán rủi ro. Báo cáo tài chính các công ty cổ phần niêm yết 1.
Mục đích của BCTC 9 BCTC phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp. Mục đích của BCTC là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế. Để đạt mục đích này, BCTC phải cung cấp những thông tin của một doanh nghiệp về: - Tài sản; - Nợ phải trả; - Vốn chủ sở hữu; - Doanh thu, thu nhập khác, chi phí, lãi và lỗ; - Các luồng tiền. Các thông tin này cùng với các thông tin trình bày trong Bản thuyết minh BCTC giúp người sử dụng dự đoán được các luồng tiền trong tương lai và đặc biệt là thời điểm và mức độ chắc chắn của việc tạo ra các luồng tiền và các khoản tương đương tiền.
Trách nhiệm lập và trình bày BCTC Tất cả các doanh nghiệp thuộc các ngành, các thành phần kinh tế đều phải lập và trình bày báo cáo tài chính. Giám đốc (hoặc người đứng đầu) doanh nghiệp chịu trách nhiệm về lập và trình bày báo cáo tài chính. Hệ thống BCTC Hệ thống BCTC của doanh nghiệp thường bao gồm: (1) Bảng cân đối kế toán, (2) Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, (3) Báo cáo thay đổi trong vốn chủ sở hữu, (4) Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, (5) Bản thuyết minh báo cáo tài chính. Ở Việt Nam hiện tại báo cáo (3) nằm trong báo cáo (5) Thuyết minh các BCTC.
Tuy nhiên, theo thông lệ quốc tế nó được tách ra thành một báo cáo riêng biệt. * Bảng cân đối kế toán 10 Bảng cân đối kế toán là một báo cáo kế toán chủ yếu phản ánh tổng quát tình hình tài sản của doanh nghiệp theo hai cách phân loại cấu thành vốn và nguồn hình thành vốn hiện có của doanh nghiệp ở một thời điểm nhất định. Ba đặc điểm cơ bản của Bảng cân đối kế toán: - Các chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán được biểu hiện giá trị (tiền) nên có thể tổng hợp được toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp đang tồn tại dưới các hình thái (cả vật chất và tiền tệ, cả hữu hình và vô hình). - Bảng cân đối kế toán được chia thành hai phần theo hai cách phản ánh tài sản là cấu thành tài sản và nguồn hình thành tài sản.
Do vậy, số tổng cộng của hai phần luôn bằng nhau. - Bảng cân đối kế toán phản ánh vốn và nguồn vốn tại một thời điểm. Thời điểm đó thường là ngày cuối cùng của kỳ hạch toán (tháng, quý, năm). Tuy vậy, so sánh số liệu giữa hai thời điểm trên bảng cân đối kế toán cũng có thể thấy được một cách tổng quát sự biến động của vốn và nguồn vốn trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.
Bảng cân đối kế toán phải bao gồm các khoản mục chủ yếu sau đây: • Tiền và các khoản tương đương tiền; • Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn; • Các khoản phải thu thương mại và phải thu khác; • Hàng tồn kho; • Tài sản ngắn hạn khác; • Tài sản cố định hữu hình; • Tài sản cố định vô hình; • Các khoản đầu tư tài chính dài hạn; • Chi phí xây dựng cơ bản dở dang; • Tài sản dài hạn khác; • Vay ngắn hạn; • Các khoản phải trả thương mại và phải trả ngắn hạn khác; • Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước; 11 • Các khoản vay dài hạn và nợ phải trả dài hạn khác; • Các khoản dự phòng; • Phần sở hữu của cổ đông thiểu số; • Vốn góp; • Các khoản dự trữ; • Lợi nhuận chưa phân phối. * Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh cũng như tình hình thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước trong một kỳ kế toán.