Tổng quan nghiên cứu

Khu vực Tây Nguyên sở hữu diện tích rừng lớn nhất cả nước, chiếm khoảng 22% tổng diện tích rừng và đạt tỷ lệ che phủ lên tới 54,3% trên tổng diện tích tự nhiên 54.640,6 km2. Mặc dù đóng vai trò là lá phổi xanh và nguồn lực sinh thái chiến lược, công tác quản lý tài nguyên rừng tại đây đang đối mặt với nhiều bất cập lớn. Thống kê đến năm 2010 cho thấy toàn vùng còn tới 703.237 ha rừng chưa được giao cụ thể mà chỉ do Ủy ban Nhân dân các cấp tạm quản lý trên danh nghĩa, dẫn đến tình trạng tài nguyên rừng tiếp cận mở và bị khai thác cạn kiệt. Nghịch lý lớn là dù sở hữu tài nguyên dồi dào, chỉ có khoảng 0,15% số hộ nông thôn tại Tây Nguyên có thu nhập chính từ nghề rừng, trong khi tỷ lệ hộ nghèo toàn vùng lên tới 24,1% và khoảng cách chênh lệch thu nhập giữa nhóm cao nhất với thấp nhất lên tới 8,2 lần.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết xung đột lợi ích giữa mục tiêu bảo tồn của Nhà nước và nhu cầu sinh kế bức thiết của cư dân bản địa (chiếm 24% dân số toàn vùng). Mục tiêu cụ thể của đề tài là phân tích cơ chế phân bổ quyền sở hữu tài sản rừng trong các mô hình thí điểm giao rừng cho cộng đồng, đánh giá khả năng thực thi các quyền tài sản và trả lời câu hỏi chính sách về việc có nên mở rộng mô hình này tại Tây Nguyên hay không.

Phạm vi nghiên cứu bao quát 5 tỉnh Tây Nguyên gồm Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng, tập trung chuyên sâu vào các mô hình thí điểm tại Đắk Lắk và Đắk Nông từ năm 1998 đến năm 2012. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn thể hiện qua việc cung cấp cơ sở khoa học giúp chuyển dịch từ phương thức quản lý hành chính mệnh lệnh sang cơ chế đồng quản lý và tự quản, hướng tới mục tiêu giảm thiểu hơn 50% các vụ vi phạm lâm luật và tạo sinh kế bền vững cho hơn 72,2% dân cư nông thôn sống phụ thuộc vào tài nguyên rừng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng khung phân tích dựa trên sự kết hợp của ba nền tảng lý thuyết kinh tế học thể chế và quản trị tài nguyên:

Thứ nhất, Lý thuyết quyền sở hữu tài sản (Property Rights Theory) của Harold Demsetz (1967) và Yoram Barzel (1997). Lý thuyết này chỉ ra rằng quyền sở hữu là một tập hợp các quyền và lợi ích chi phối hành vi sử dụng tài sản. Độc quyền loại trừ và khả năng chuyển nhượng quyền tài sản là động cơ kinh tế cốt lõi thúc đẩy chủ sở hữu bảo tồn, tái tạo và tối ưu hóa giá trị tài nguyên, ngăn chặn hiện tượng "bi kịch của chung".

Thứ hai, Lý thuyết quản trị tài nguyên dùng chung (Common-Pool Resources) của Elinor Ostrom (1990) và mô hình Bó quyền (Bundle of Rights) của Schlager & Ostrom (1992). Khung lý thuyết này phân định rõ 5 quyền cấu thành gồm: quyền tiếp cận (vào khu vực rừng), quyền chiếm hữu (thu hoạch lâm sản), quyền quản lý (điều chỉnh quy chế sử dụng), quyền loại trừ (quyết định ai được phép tiếp cận) và quyền chuyển giao (cho thuê, bán quyền).

Thứ ba, Lý thuyết tiếp cận (Theory of Access) của Jesse Ribot và Nancy Peluso (2003), phân biệt rõ rệt giữa "quyền sở hữu danh nghĩa" và "khả năng tiếp cận thực tế" thông qua năng lực vốn, công nghệ, tri thức và thể chế văn hóa.

Các khái niệm chính được vận dụng bao gồm: Hàng hóa công không thuần túy, Thất bại thị trường trong định giá dịch vụ môi trường rừng, Cơ chế sở hữu hỗn hợp và Thể chế tự quản cộng đồng buôn làng truyền thống.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính tiếp cận qua phân tích nghiên cứu tình huống điển hình (case study analysis).

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập toàn diện từ Báo cáo điều tra lâm nghiệp cộng đồng năm 2008 của Cục Lâm nghiệp, số liệu hiện trạng rừng giai đoạn 2007 - 2010 của Tổng cục Kiểm lâm, dữ liệu Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê và các báo cáo dự án chuyên đề từ các tổ chức quốc tế như GTZ, RECOFTC, IUCN.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa và phỏng vấn sâu với cỡ mẫu gồm 27 cán bộ cơ sở (kiểm lâm địa bàn, công an thụ lý vi phạm lâm nghiệp, cán bộ địa chính - lâm nghiệp cấp xã) cùng 32 đại diện hộ gia đình sinh sống gần rừng tự nhiên tại 4 tỉnh: Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu mục đích kết hợp thuận tiện, hướng vào các buôn làng đang trực tiếp tham gia mô hình thí điểm giao đất, giao rừng. Lý do lựa chọn phương pháp nghiên cứu tình huống là nhằm mổ xẻ sâu sắc bản chất vận hành phức tạp của các quan hệ sở hữu vi mô, các xung đột lợi ích thực tế và luật tục địa phương mà các mô hình kinh tế lượng định lượng thuần túy không thể đo lường toàn diện.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tính đến tháng 5/2011, toàn vùng Tây Nguyên đã thí điểm giao 32.649,9 ha rừng cho 39 cộng đồng thôn/buôn và 55 nhóm hộ. Trong đó, Đắk Lắk dẫn đầu với 15.006 ha (19 cộng đồng, 15 nhóm hộ), Đắk Nông giao 12.675,9 ha (12 cộng đồng, 40 nhóm hộ), Gia Lai giao 4.160 ha và Kon Tum giao 808 ha. Tuy nhiên, hơn 75% diện tích rừng giao cho cộng đồng là đất trống, đồi núi trọc hoặc rừng nghèo kiệt, trữ lượng gỗ thấp, khiến nguồn thu kinh tế trực tiếp trước mắt cho người dân rất hạn chế.

Thứ hai, mô hình quản lý rừng cộng đồng thể hiện tính ưu việt vượt trội trong việc kiểm soát vi phạm và bảo tồn tài nguyên so với giao cho cá nhân hay lâm trường quốc doanh. Điển hình tại Buôn Ta Ly (huyện Ea H’leo, Đắk Lắk), cộng đồng đã tổ chức tuần tra bắt giữ 48 vụ vận chuyển gỗ trái phép; đồng thời thực hiện khai thác hợp pháp 368 m3 gỗ thương mại năm 2006 thu về 616 triệu đồng (lãi ròng 236 triệu đồng sau khi trừ chi phí và thuế tài nguyên để tái đầu tư vào quỹ buôn). Tương tự, tại Thôn BuNơr (huyện Tuy Đức, Đắk Nông), 96 hộ nhận 1.016 ha rừng đã tổ chức 4 đợt khai thác gỗ thương mại bền vững, riêng kỳ 2010 - 2011 thu về 722 triệu đồng, phân chia bình quân khoảng 800.000 đồng/hộ/đợt và tạo nguồn quỹ bảo vệ rừng hiệu quả.

Thứ ba, sự thiếu hụt an toàn pháp lý và khoảng trống cưỡng chế thể chế đang làm suy giảm tính bền vững của mô hình. Trong giai đoạn 2008 - 2010, toàn vùng Tây Nguyên ghi nhận tới 23.562 vụ vi phạm pháp luật lâm nghiệp (trong đó 68% đối tượng vi phạm là hộ gia đình cá thể), nhưng có tới 98% vụ việc chỉ dừng lại ở xử lý hành chính và chỉ có 0,2% vụ việc được đưa ra xét xử tại tòa án.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng rừng tự nhiên bị xâm hại xuất phát từ sự bất cân xứng nghiêm trọng giữa nghĩa vụ bảo vệ và quyền hưởng lợi. Nhà nước có xu hướng xem giao rừng cho cộng đồng là việc bàn giao trách nhiệm quản lý hành chính, nhưng lại hạn chế tối đa các quyền chuyển giao tài sản và áp đặt quy chế kiểm soát khai thác quá phức tạp. Kết quả khảo sát 28 hộ dân cho thấy có 57,1% (16/28 hộ) không đầu tư trồng rừng do thiếu vốn và 46,4% (13/28 hộ) đánh giá trồng rừng mang lại thu nhập thấp hơn nhiều so với canh tác cà phê, cao su.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh rõ nét thực trạng này khi được mô tả qua ma trận phân quyền 5 cấp độ của Ostrom: trong khi cộng đồng nắm giữ đầy đủ quyền tiếp cận và quản lý thực tế, họ lại bị tước bỏ quyền định đoạt chuyển nhượng và bị đánh thuế tài nguyên tương tự các lâm trường thương mại lớn. Sự đối sánh qua các bảng phân bổ quỹ đất lâm nghiệp cũng chỉ ra rằng các công ty lâm nghiệp nhà nước vẫn nắm giữ các vị trí rừng giàu, còn cộng đồng dân cư địa phương chỉ được giao 2,7% diện tích đất lâm nghiệp toàn vùng.

So với việc giao đất manh mún cho từng hộ gia đình (dễ dẫn đến chuyển nhượng đất ngầm và phá vỡ cấu trúc sinh thái), giao rừng cho toàn thể cộng đồng duy trì được tính liên tục của hệ sinh thái, phát huy uy tín của già làng, trưởng buôn và lồng ghép hài hòa luật tục vào quy ước bảo vệ rừng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện địa vị pháp lý cho chủ thể cộng đồng: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp với Bộ Tư pháp sửa đổi Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng, chính thức công nhận cộng đồng dân cư thôn/buôn có tư cách pháp nhân đầy đủ trong các giao dịch dân sự, hợp đồng kinh tế và quyền khởi kiện bảo vệ tài sản rừng trước năm 2015.

Thứ hai, mở rộng quỹ rừng giao và nâng cao chất lượng rừng: Ủy ban Nhân dân 5 tỉnh Tây Nguyên chỉ đạo thu hồi và chuyển giao tối thiểu 15% đến 20% diện tích rừng tự nhiên đang do UBND cấp xã và các công ty lâm nghiệp quản lý kém hiệu quả sang cho các cộng đồng bản địa quản lý trong giai đoạn 2013 - 2018; chấm dứt tình trạng chỉ giao rừng nghèo kiệt cho người dân.

Thứ ba, kiến tạo cơ chế hưởng lợi và chính sách tài chính linh hoạt: Bộ Tài chính ban hành quy chế miễn giảm 100% thuế tài nguyên đối với lâm sản khai thác gia dụng và giảm 50% thuế đối với khai thác thương mại của cộng đồng; phân bổ tối thiểu 30% nguồn thu từ Quỹ chi trả dịch vụ môi trường rừng trực tiếp cho các ban quản lý rừng buôn làng với mức chi trả đạt từ 200.000 đến 400.000 đồng/ha/năm giai đoạn 2014 - 2020.

Thứ tư, tăng cường hỗ trợ kỹ thuật khuyến lâm và năng lực thực thi pháp luật: Chi cục Kiểm lâm các tỉnh phối hợp với chính quyền cấp xã tổ chức tập huấn kỹ thuật lâm sinh định kỳ cho 100% các tổ tuần tra tự quản buôn làng, công nhận tính pháp lý của hương ước/quy ước buôn làng và bố trí lực lượng kiểm lâm địa bàn phối hợp xử lý dứt điểm 100% các vụ phá rừng lấn chiếm đất trái phép.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước: Các chuyên viên tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Tổng cục Lâm nghiệp và Sở Nông nghiệp các tỉnh sẽ tìm thấy cơ sở lý luận và thực tiễn xác đáng để sửa đổi khung pháp lý về quyền tài sản, chính sách phân cấp lâm nghiệp và quy chế quản lý rừng cộng đồng.

Thứ hai, các tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ: Các tổ chức như RECOFTC, IUCN, ADB, GTZ đang tài trợ các chương trình quản trị tài nguyên và phát triển sinh kế có thể sử dụng các chỉ số và dữ liệu khảo sát từ luận văn để thiết kế dự án hỗ trợ kỹ thuật sát thực tế Tây Nguyên.

Thứ ba, giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Giảng viên và học viên chuyên ngành Chính sách công, Kinh tế tài nguyên môi trường, Quản lý lâm nghiệp có một tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp phân tích kinh tế thể chế ứng dụng vào nghiên cứu tình huống thực địa.

Thứ tư, chính quyền địa phương cấp huyện, xã và Ban tự quản buôn làng: Cán bộ địa phương có thể vận dụng trực tiếp bài học kinh nghiệm từ mô hình Buôn Ta Ly và Thôn BuNơr để xây dựng quy ước bảo vệ rừng, tổ chức bộ máy tuần tra và giải quyết tranh chấp đất rừng tại cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao giao rừng cho cộng đồng tại Tây Nguyên lại ưu việt hơn giao cho từng hộ gia đình riêng lẻ?

Rừng tự nhiên là một hệ sinh thái phức hợp, không thể chia cắt cơ học mà không làm tổn hại cấu trúc sinh thái. Giao rừng cho cộng đồng tận dụng được sự gắn kết văn hóa làng buôn truyền thống, huy động lực lượng tuần tra rộng rãi và ngăn chặn tình trạng người dân tự ý bán đất rừng. Điển hình tại Buôn Ta Ly, cơ chế tự quản buôn làng đã giúp bắt giữ tới 48 vụ vi phạm lâm luật.

Khung pháp lý hiện hành hạn chế những quyền tài sản nào của cộng đồng nhận rừng?

Theo Điều 30 Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng năm 2004, cộng đồng không được phân chia diện tích rừng cho các thành viên; không được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp, bảo lãnh hoặc góp vốn kinh doanh bằng giá trị quyền sử dụng rừng. Điều này hạn chế khả năng huy động vốn thương mại nhưng giúp bảo toàn diện tích đất lâm nghiệp chung.

Đâu là nguyên nhân lớn nhất khiến người dân nhận rừng nhưng chưa mặn mà đầu tư tái sinh rừng?

Nguyên nhân chủ yếu là do hơn 75% diện tích giao là rừng nghèo kiệt, không đem lại thu nhập trước mắt. Khảo sát thực địa chỉ ra rằng 57,1% hộ dân thiếu vốn đầu tư lâm sinh và 46,4% hộ nhận thấy trồng rừng có chu kỳ thu hồi vốn quá dài, hiệu quả kinh tế thấp hơn nhiều so với trồng cà phê hay hoa màu ngắn ngày.

Hoạt động khai thác gỗ thương mại của cộng đồng được vận hành ra sao trong các mô hình thí điểm?

Cộng đồng phải lập kế hoạch khai thác bền vững được cơ quan lâm nghiệp thẩm định và Ủy ban Nhân dân tỉnh phê duyệt. Như trường hợp Thôn BuNơr (Đắk Nông), sau 4 đợt khai thác gỗ hợp pháp thu về 722 triệu đồng, cộng đồng trích nộp ngân sách, chi trả công khai thác và phân chia bình quân khoảng 800.000 đồng/hộ, phần còn lại trích lập quỹ bảo vệ rừng thôn.

Làm thế nào để giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn rừng và nhu cầu đất canh tác của đồng bào dân tộc thiểu số?

Cần kết hợp linh hoạt cơ chế đa dụng đất rừng: cho phép người dân xen canh nông - lâm kết hợp trên một tỷ lệ diện tích đất rừng nghèo nhất định theo quy hoạch. Đồng thời, Nhà nước cần đẩy mạnh chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng để tạo nguồn thu nhập tiền mặt thường xuyên, bù đắp chi phí cơ hội giữ rừng cho người dân.

Kết luận

  • Minh định rõ ràng quyền sở hữu tài sản là điều kiện tiên quyết để xóa bỏ tình trạng tiếp cận mở đối với 703.237 ha rừng tự nhiên vô chủ tại Tây Nguyên.
  • Giao rừng cho cộng đồng là mô hình thể chế phù hợp nhất với tập quán văn hóa của 24% đồng bào bản địa, mang lại hiệu quả bảo vệ rừng vượt trội so với giao cho hộ cá thể hay doanh nghiệp nhà nước.
  • Điểm nghẽn thể chế lớn nhất hiện nay là việc cộng đồng chưa có tư cách pháp nhân chính thức và thiếu các cơ chế tài chính hỗ trợ sinh kế giai đoạn hậu giao rừng.
  • Các mô hình thực tế tại Buôn Ta Ly và Thôn BuNơr chứng minh cộng đồng hoàn toàn có năng lực tự quản và khai thác lâm sản bền vững nếu được Nhà nước trao quyền và hướng dẫn kỹ thuật phù hợp.
  • Cần khẩn trương chuyển giao 15% đến 20% diện tích rừng nhà nước sang cho cộng đồng gắn với chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trong giai đoạn 2013 - 2020.

Luận văn đóng góp một khung phân tích thể chế sắc bén và thực tế, làm cầu nối giữa lý thuyết kinh tế tài nguyên và thực tiễn quản trị lâm nghiệp tại Việt Nam. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cán bộ quản lý hãy nghiên cứu toàn văn công trình này để cùng thúc đẩy các giải pháp chính sách lâm nghiệp bền vững cho vùng đất Tây Nguyên.