CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN Nội dung của chương này tập trung nghiên cứu tổng quan về lý thuyết trắc nghiệm khách quan, các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan và các tiêu chí cũng như cách thức để đánh giá chất lượng của câu hỏi và đề thi trắc nghiệm khách quan. Trên cơ sở lý thuyết đó, khóa luận khảo sát và đưa ra một số nhận xét, đánh giá cho phần mềm trắc nghiệm hiện nay. Tổng quan về trắc nghiệm khách quan 1.
Tự luận và trắc nghiệm khách quan Tự luận và trắc nghiệm khách quan đều là những phương tiện kiểm tra khả năng học tập, và cả hai đều là trắc nghiệm. Các bài kiểm tra thuộc loại tự luận mà xưa nay vốn quen thuộc với chúng ta cũng là những bài trắc nghiệm nhằm khảo sát khả năng của học sinh về các môn học. Các chuyên gia đo lường gọi chung các hình thức kiểm tra này là “trắc nghiệm tự luận” (essay-type-test) để phân biệt với loại trắc nghiệm gọi là “trắc nghiệm khách quan” (objective test). Thật ra, việc dùng từ “khách quan” này để phân biệt hai loại kiểm tra nói trên cũng không đúng hẳn, vì trắc nghiệm tự luận không nhất thiết là trắc nghiệm “chủ quan” và trắc nghiệm khách quan không phải là hoàn toàn “khách quan”.
Tại Việt Nam, các tài liệu thường ghi là “trắc nghiệm khách quan”, không phải hiểu theo nghĩa đối lập với một đo lường chủ quan nào, mà nên hiểu là hình thức kiểm tra này có tính khách quan cao hơn cách kiểm tra, đánh giá bằng tự luận chẳng hạn. Để thuận tiện trong cách gọi, nên trong nội dung của khóa luận này từ “tự luận” sẽ được dùng thay cho trắc nghiệm tự luận và từ “trắc nghiệm” thay cho trắc nghiệm khách quan. Bảng so sánh dưới đây chúng ta sẽ có một cái nhìn rõ ràng hơn giữa tự luận và trắc nghiệm. Sinh viên thực hiện: Đỗ Văn Quý 13 Khóa luận tốt nghiệp Bảng 1.1 So sánh giữa tự luận và trắc nghiệm Tự luận Trắc nghiệm Một câu hỏi thuộc loại tự luận đòi hỏi thí Một câu hỏi trắc nghiệm buộc thí sinh sinh phải tự mình soạn câu trả lời và diễn phải lựa chọn câu trả lời đúng nhất trong tả câu trả lời bằng ngôn ngữ của mình một số câu đã cho sẵn Một bài tự luận gồm số câu hỏi tương đối Một bài trắc nghiệm thường gồm nhiều ít và có tính cách tổng quát, đòi hỏi thí câu hỏi có tính cách chuyên biệt chỉ đòi sinh phải triển khai câu trả lời bằng lời lẽ hỏi những câu trả lời ngắn gọn dài dòng Trong khi làm một bài tự luận, thí sinh Trong khi làm một bài trắc nghiệm, thí phải bỏ ra phần lớn thời gian để suy nghĩ sinh dùng nhiều thời gian để đọc và suy và viết nghĩ Chất lượng của một bài trắc nghiệm được Chất lượng của một bài tự luận tùy thuộc xác định một phần lớn do kỹ năng của chủ yếu vào kỹ năng của người chấm bài người soạn thảo bài trắc nghiệm Một bài thi theo lối tự luận tương đối dễ Một bài thi trắc nghiệm khó soạn, nhưng soạn, nhưng khó chấm và khó cho điểm việc chấm và cho điểm tương đối dễ dàng chính xác và chính xác.
Người soạn thảo trắc nghiệm có nhiều tự Thí sinh có nhiều tự do bộc lộ cá tính của do bộc lộ kiến thức và các giá trị của mình mình trong câu trả lời, và người chấm bài qua việc đặt các câu hỏi, nhưng chỉ cho cũng có tự do cho điểm các câu trả lời thí sinh quyền tự do chứng tỏ mức độ hiểu theo xu hướng riêng của mình biết của mình qua tỉ lệ câu trả lời đúng Trong các câu hỏi tự luận, nhiệm vụ học Trong các câu hỏi trắc nghiệm, nhiệm vụ tập của người học và trên cơ sở đó giám học tập của người học và trên cơ sở đó khảo thẩm định mức độ hoàn thành nhiệm giám khảo thẩm định mức độ hoàn thành vụ ấy không được phát biểu một cách rõ các nhiệm vụ ấy được phát biểu một cách ràng rõ ràng. Sinh viên thực hiện: Đỗ Văn Quý 14 Khóa luận tốt nghiệp Một bài tự luận cho phép và đôi khi khuyến khích sự “lừa phỉnh” (chẳng hạn Một bài trắc nghiệm cho phép và đôi khi như bằng những ngôn từ hoa mỹ hay bằng khuyến khích sự phỏng đoán. cách đưa ra những bằng chứng khó có thể xác định được) Sự phân bố điểm số của một bài thi tự luận Phân bố điểm số của thí sinh hầu như có thể được kiểm soát một phần lớn do hoàn toàn được quyết định do bài trắc người chấm nghiệm. Tuy nhiên tự luận hay trắc nghiệm chung quy vẫn là những phương pháp kiểm tra kết quả học tập cho nên chúng vẫn có những điểm chung sau: Thứ nhất, trắc nghiệm hay tự luận đều có thể đo lường hầu hết mọi thành quả học tập quan trọng mà một bài khảo sát bằng lối viết có thể khảo sát được.
Thứ hai, trắc nghiệm và tự luận có thể được sử dụng để khuyến khích học sinh học tập nhằm đạt đến các mục tiêu: hiểu biết các nguyên lý, tổ chức và phối hợp các ý tưởng, ứng dụng kiến thức giải quyết các vấn đề. Thứ ba, trắc nghiệm và tự luận đòi hỏi sự vận dụng ít nhiều phán đoán chủ quan. Thứ tư, giá trị cả hai loại trắc nghiệm và tự luận tùy thuộc vào tính khách quan và đáng tin cậy của chúng. Những trường hợp dùng trắc nghiệm Chúng ta nên sử dụng trắc nghiệm để khảo sát thành quả học tập trong những trường hợp sau: - Khi ta cần khảo sát thành quả học tập của một số đông học sinh, hay muốn rằng bài khảo sát ấy có thể được sử dụng lại vào một lúc khác.
- Khi ta muốn có những điểm số đáng tin cậy, không phụ thuộc vào chủ quan của người chấm bài. - Khi các yếu tố công bằng, vô tư, chính xác được coi là những yếu tố quan trọng nhất của việc thi cử. Sinh viên thực hiện: Đỗ Văn Quý 15 Khóa luận tốt nghiệp - Khi ta có nhiều câu trắc nghiệm tốt đã được dữ trữ sẵn để có thể lựa chọn và cấu trúc lại một bài thi trắc nghiệm mới. Đặc biệt là muốn chấm nhanh và công bố kết quả sớm.
- Khi muốn ngăn ngừa nạn học tủ, học vẹt, gian lận trong thi cử của thí sinh. Quy trình xây dựng đề thi trắc nghiệm khách quan, ngân hàng câu hỏi Để xây dựng một đề thi trắc nghiệm khách quan, cũng một ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm, phải thực hiện theo một quy trình tuần tự như sau: Xác định mục tiêu cụ thể Cá nhân tự viết câu hỏi Trao đổi trong nhóm Duyệt lại câu hỏi Lập đề trắc nghiệm thử Trắc nghiệm thử Phân tích kết quả trắc nghiệm thử Chỉnh lý các câu hỏi đưa vào ngân hàng Lập đề trắc nghiệm chính thức Tổ chức thi Chấm thi và phân tích kết quả, đánh giá câu hỏi, đề thi - Xác định mục tiêu cụ thể (bảng đặc trưng 2 chiều): bao gồm việc liệt kê các mục tiêu cụ thể liên quan đến các năng lực cần đo lường và cây kiến thức đối với từng phần của môn học. Sau đó tùy vào mục đích hay mức độ quan trọng mà quyết định số câu hỏi cho phù hợp. - Cá nhân tự viết câu hỏi: mỗi cá nhân thực hiện việc soạn câu hỏi thông qua bảng “Nhiệm vụ”, tại đây mô tả đầy đủ thông tin vùng kiến thức cần soạn và số câu phải soạn.
- Trao đổi trong nhóm: câu hỏi sau khi được nhập vào ngân hàng sơ bộ sẽ được các cá nhân (giáo viên) khác cùng trao đổi, thảo luận nhằm đảm bảo tính đúng đắn và phù hợp của câu hỏi. Sinh viên thực hiện: Đỗ Văn Quý 16 Khóa luận tốt nghiệp - Duyệt lại câu hỏi: duyệt câu hỏi là căn cứ để hệ thống tự động hoặc quản lý hệ thống thực hiện chuyển câu hỏi vào ngân hàng chính thức. - Lập đề trắc nghiệm thử: thực hiện việc tạo đề một cách ngẫu nhiên theo ma trận từ ngân hàng sơ bộ. - Trắc nghiệm thử: sau khi lập đề trắc nghiệm thử sẽ cho tiến hành thi thử, lấy kết quả làm căn cứ cho việc đánh giá câu hỏi, đánh giá đề thi.
- Phân tích kết quả trắc nghiệm thử: phân tích độ khó, độ phân cách của câu hỏi, độ tin cậy của đề thi. - Chỉnh lý các câu hỏi đưa vào ngân hàng: câu hỏi sau khi soạn nếu chưa được công khai duyệt sẽ được chính cá nhân soạn chỉnh lý hoặc dựa vào kết quả đánh giá câu hỏi để chỉnh sửa cho phù hợp. - Lập đề trắc nghiệm chính thức: tạo đề thi chính thức với câu hỏi được lấy từ ngân hàng chính thức. - Tổ chức thi - Chấm thi và phân tích kết quả, đánh giá câu hỏi, đề thi: thực hiện chấm bài thi và trả kết quả cho thí sinh, phân tích kết quả bài làm, và thực hiện đánh giá các độ đo câu hỏi, đề thi.
Trong khóa luận này sẽ nghiên cứu 3 nội dung Lập đề trắc nghiệm chính thức, Tổ chức thi và Chấm thi, phân tích kết quả, đánh giá câu hỏi, đề thi trong quy trình trên. Một số dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan thường gặp 1. Câu trắc nghiệm đa lựa chọn (multiple choice question) - Cấu trúc của câu trắc nghiệm dạng đa lựa chọn + Phần câu hỏi: là một câu hỏi (kết thúc là dấu chấm hỏi) hay câu chưa hoàn tất. Trong phần này, người soạn trắc nghiệm đặt ra một vấn đề hay đưa ra một ý tưởng rõ ràng giúp cho người trả lời hiểu rõ câu trắc nghiệm ấy muốn hỏi điều gì để lựa chọn câu trả lời thích hợp.
+ Phần lựa chọn: có thể có 3,4,5 lựa chọn hoặc nhiều hơn. Mỗi lựa chọn là một câu trả lời. Trong tất cả các lựa chọn chỉ có một lựa chọn được xác định là đúng Sinh viên thực hiện: Đỗ Văn Quý 17 Khóa luận tốt nghiệp nhất, gọi là “đáp án”. Những lựa chọn còn lại đều phải sai, là câu gây nhiễu.
Điều quan trọng người soạn thảo cần lưu ý là phải làm sao cho các câu nhiễu này đều hấp dẫn ngang nhau đối với những học sinh chưa nắm vững kiến thức, thúc đẩy học sinh ấy chọn vào những câu nhiễu này. Ví dụ: Câu trắc nghiệm đa lựa chọn Hình 1.1 Dạng câu trắc nghiệm đa lựa chọn - Câu trắc nghiệm dạng này có ưu điểm: + Độ may rủi thấp: nếu câu trắc nghiệm có N lựa chọn thì độ may rủi là 1/N. Ta có bảng tương quan giữa số lựa chọn và độ may rủi của câu hỏi dạng này như sau: Bảng 1.