Chương 1: TỪ ĐƠN. Khái niệm từ đơn tiếng Việt. Phương thức cấu tạo từ của từ đơn tiếng Việt. Số lượng tiếng vị trong từ đơn tiếng Việt.
Đặc điểm ngữ âm, đặc điểm ý nghĩa, đặc điểm ngữ pháp của tiếng vị trong từ đơn tiếng Việt. Phân tích một số đặc điểm của từ đơn tiếng Việt. Phân loại từ đơn tiếng Việt. 16 CHƯƠNG 2: TỪ GHÉP.
Khái niệm từ ghép tiếng Việt. Phương thức cấu tạo từ ghép tiếng Việt. Phân biệt từ ghép và cụm từ tự do. Số lượng tiếng vị trong từ ghép tiếng Việt.
Đặc điểm ngữ âm – đặc điểm ý nghĩa – đặc điểm ngữ pháp của tiếng vị trong từ ghép tiếng Việt.Lịch sử vấn đề về các quan niệm khác nhau trong việc phân loại từ ghép tiếng Việt. Quan niệm của tác giả về việc phân loại từ ghép dựa theo tiêu chí khác nhau. Khái niệm từ láy tiếng Việt. Phương thức cấu tạo từ láy tiếng Việt.
Số lượng tiếng vị trong từ láy tiếng Việt. Đặc điểm ngữ âm, ý nghĩa và ngữ pháp của tiếng vị trong từ láy tiếng Việt. Phân tích một số đặc điểm của từ láy tiếng Việt. Nhận diện từ láy tiếng Việt.
140 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 169 LỜI NÓI ĐẦU Tiếng Việt là công cụ giao tiếp quan trọng của người Việt. Nói đến hệ thống từ vựng tiếng Việt tức là nói đến hệ thống vốn từ không ngừng gia tăng và phát triển. Vốn từ vựng tiếng Việt được dùng đã lên tới con số hàng chục vạn đơn vị.
Từ tiếng Việt thật sự là một công cụ vô cùng phong phú, trong đó, nó chứa đựng trong lòng các tiểu hệ thống bao gồm nhiều lớp từ, loại từ. Vì vậy, việc phân loại từ tiếng Việt vào một hệ thống chặt chẽ, thống nhất và khoa học là một việc làm cần thiết. Hiện nay, việc phân loại từ tiếng Việt trong hệ thống từ loại thuộc bình diện ngữ pháp tuy còn nhiều ý kiến trái chiều nhưng cơ bản chúng đã được xếp loại dựa theo các tiêu chí phân định tương đối thống nhất. Còn vấn đề phân loại từ tiếng Việt trong hệ thống từ vựng ngữ nghĩa thì quả thật còn nhiều điều tồn tại và bất cập.
Thực ra, người bình thường khi nói và viết không hề quan tâm tới loại từ nào, hoặc người ta ít chú ý đến lịch sử, nguồn gốc của từ mà chủ yếu là họ dựa vào cảm thức ngôn ngữ. Họ cảm thấy từ này dễ hiểu, từ kia khó hiểu, từ này sang trọng, từ kia mộc mạc. Những ấn tượng ấy rất mơ hồ nhưng có thực. Nhiệm vụ của nhà nghiên cứu là phân loại chúng theo những tiêu chí một cách xác đáng và rõ ràng.
Hiện tại, các nhà Việt ngữ học vẫn chưa có tiếng nói và quan niệm thống nhất về ranh giới của từ và phân loại từ tiếng Việt trong hệ thống từ vựng ngữ nghĩa. Cho nên, một hệ lụy tất yếu sẽ dẫn đến: mặc dù trong chương trình giảng dạy từ ngữ ở tất cả các bậc học (từ Tiểu học cho đến Trung học, từ Đại học cho đến Cao học) và việc phân loại từ ở tất cả các loại từ điển tiếng Việt đều đã đưa ra rất nhiều loại từ nhưng hầu như chúng chưa được dựa vào một tiêu chí thống nhất. Bên cạnh đó, vấn đề nội dung ngữ nghĩa cùng với mối quan hệ của từ vựng - ngữ nghĩa - ngữ dụng, đặc biệt là ngữ nghĩa trong hoạt động hành chức hiện nay đã trở thành trọng tâm chú ý của các nhà Việt ngữ học. Việc nghiên cứu ngữ nghĩa của từ trong hướng mới này đã được chúng tôi nghiên cứu trong hai chuyên khảo “Ẩn dụ với ý nghĩa hàm ẩn của từ tiếng Việt” và “Các bình diện từ và ngữ cố định tiếng Việt”.
Dựa trên các kết quả nghiên cứu đã đạt được, chúng tôi mạnh dạn và có những bước đi đột phá để đưa ra bức tranh phân loại từ tiếng Việt từ sự kết hợp và vận dụng các hướng trên đây. Nói rõ hơn, chúng tôi đã mạnh dạn kết hợp cả đơn vị từ vựng lẫn ngữ nghĩa để đưa ra vấn đề về ranh giới của từ và phân loại từ tiếng Việt một cách rõ ràng và thống nhất hơn trong chuyên khảo Phân loại từ tiếng Việt xét ở tiêu chí quan hệ ngữ pháp và số lượng của tiếng vị trong phạm vi hoạt động của từ. Như vậy, mục đích chính là chúng tôi muốn đưa ra một bức tranh phân loại tổng thể toàn bộ hệ thống từ tiếng Việt trong mối quan hệ biện chứng hai mặt cả đơn vị từ vựng lẫn ngữ nghĩa của từ. Việc phân loại từ tiếng Việt, chúng tôi xin dựa vào các tiêu chí chính như sau: Thứ nhất, chúng tôi đã xác định rõ đơn vị cấu tạo từ của từ tiếng Việt là tiếng vị.
Vì vậy, việc phân loại từ tiếng Việt là hoàn toàn dựa trên cơ sở này. Nói cách khác, chúng tôi chọn tiếng vị là đơn vị cơ sở cấu tạo nên từ là tiêu chí chính để có thể phân loại từ tiếng Việt một cách thống nhất và toàn diện. Những kiến thức liên quan đến nội dung này đã được chúng tôi trình bày kĩ ở chuyên khảo “Tiếng vị: có phải là đơn vị cấu tạo từ của từ tiếng Việt?”. Ở đây, chúng tôi xác định và phân loại từ tiếng Việt dựa trên các tiêu chí này.
Thứ hai là dựa vào ba mặt ngữ nghĩa, ngữ pháp, các đặc điểm khác nhau của bản thân từng tiếng vị. Thứ ba là dựa vào ba mối quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp, các đặc điểm khác nhau giữa các tiếng vị trong nội bộ một từ tiếng Việt. Thứ tư là dựa vào phạm vi hoạt động của từ sau khi từ đã trải qua phương thức cấu tạo từ. Đó là: phạm vi khi từ nằm trong vốn từ vựng, chưa đi vào hoạt động (trong từ điển); phạm vi văn cảnh lời nói (tiếp xúc ngôn ngữ); phạm vi văn cảnh nghệ thuật.
Cuốn sách ra đời với nhu cầu đóng góp một tiếng nói và xin thử đề xuất một số giải pháp mới cho bức tranh phân loại từ tiếng Việt. Tuy có nhiều sự đổi mới trong quan niệm cũng như cách nhìn và cách lí giải về vấn đề nhận diện từ, xác định ranh giới của từ và phân loại từ trong tiếng Việt nhưng đóng góp lớn nhất của tác giả là việc phân loại các loại từ tiếng Việt đều được dựa trên các tiêu chí xuyên suốt, thống nhất và khoa học. Bên cạnh sự đổi mới trong quan niệm cũng như cách nhìn và cách lí giải các vấn đề, người viết còn xâu chuỗi, hệ thống lại những kiến thức mà các tác giả đi trước như: GS.TS Đỗ Hữu Châu, GS.TS Nguyễn Tài Cẩn, GS.TS Nguyễn Thiện Giáp, GS.TS Nguyễn Đức Tồn, GS.TS Nguyễn Lai, GS.TS Nguyễn Đức Dân… đã đặt ra. Để bạn đọc tiện theo dõi một cách hệ thống nội dung phân loại số lượng từ dựa vào các tiêu chí thống nhất, chúng tôi xin đưa ra bức tranh tóm tắt vấn đề phân loại như sau: Một là, nếu việc phân loại từ tiếng Việt xét ở tiêu chí quan hệ ngữ pháp và số lượng của tiếng vị trong nội bộ của từ thì vốn từ tiếng Việt được phân thành 3 loại: từ đơn, từ láy và từ ghép.
Hai là, nếu việc phân loại từ tiếng Việt xét ở tiêu chí tính chất nghĩa thực/ không thực; chức năng định danh/ phi định danh của tiếng vị hoạt động trong từ thì vốn từ tiếng Việt được phân thành 2 loại: từ thực và từ hư. Ba là, nếu việc phân loại từ xét ở tiêu chí số lượng nghĩa vị của tiếng vị trong các phạm vi hoạt động của từ thì vốn từ tiếng Việt được phân thành 2 loại: từ đơn nghĩa và từ đa nghĩa. Bốn là, nếu việc phân loại từ tiếng Việt xét ở tiêu chí có/ không sử dụng và tác động vào mặt ngữ nghĩa của tiếng vị trong các phạm vi hoạt động của từ thì vốn từ tiếng Việt được phân thành 4 loại: từ đa nghĩa thuộc về một từ loại, từ đồng âm /từ gần âm, từ đồng nghĩa/từ gần nghĩa, từ trái nghĩa. Năm là, nếu việc phân loại từ tiếng Việt xét ở tiêu chí có/ không sử dụng cách thức mô phỏng hay miêu tả tiếng vị ở mặt nghĩa trong các phạm vi hoạt động của từ thì vốn từ tiếng Việt được phân thành 2 loại: từ tượng thanh và từ tượng hình.
Sáu là, nếu việc phân loại toàn bộ vốn từ tiếng Việt xét ở tiêu chí từ tính chất nguồn gốc của từ thì vốn từ tiếng Việt được phân thành 2 loại: từ thuần Việt và từ vay mượn. Bảy là, nếu việc phân loại toàn bộ vốn từ tiếng Việt xét ở tiêu chí từ tính chất thời gian sử dụng của từ thì vốn từ tiếng Việt được phân thành 3 loại: từ cổ, từ cũ và từ mới. Tám là, nếu việc phân loại toàn bộ vốn từ tiếng Việt xét ở tiêu chí từ tính chất phạm vi sử dụng của từ thì vốn từ tiếng Việt được phân thành 6 loại: từ toàn dân, từ địa phương, từ lóng, từ nghề nghiệp, từ khoa học quốc tế/ thuật ngữ khoa học, từ xưng hô. Chín là, nếu việc phân loại toàn bộ vốn từ tiếng Việt xét ở tiêu chí tính chất phong cách biểu cảm/ trung hòa trong hoạt động của từ thì vốn từ tiếng Việt được phân thành 2 loại: từ trung hòa và từ biểu cảm.
Mười là, nếu việc phân loại toàn bộ vốn từ tiếng Việt xét ở tiêu chí phạm vi sử dụng rộng - không có tính chất phong cách chức năng hạn chế: từ đa phong cách và xét ở tiêu chí phạm vi sử dụng hẹp - có tính chất phong cách chức năng hạn chế: từ đơn phong cách/ từ chuyên phong cách hay từ chuyên môn thì vốn từ tiếng Việt được phân thành 8 loại: từ đa phong cách, từ đơn phong cách chức năng hội thoại văn hóa thông dụng, từ đơn phong cách thông tục, từ đơn phong cách hành chính - công vụ, từ đơn phong cách báo chí - công luận, từ đơn phong cách chính luận, từ đơn phong cách khoa học, từ đơn phong cách văn chương. Mười một là, nếu việc phân loại toàn bộ vốn từ tiếng Việt xét ở tiêu chí dùng ít/ dùng nhiều thì vốn từ tiếng Việt được phân thành 2 loại: từ ít dùng và từ dùng nhiều. Mười hai là, nếu việc phân loại toàn bộ vốn từ tiếng Việt xét ở tiêu chí trang trọng, kiểu cách/ bình dân thì vốn từ tiếng Việt được phân thành 2 loại: từ trang trọng/ kiểu cách và từ bình dân.