phần mở đầu và kết luận, luận án có ba chương chính: Chương một : Ở chương này, chúng tôi giới thiệu một số khái niệm về hình vị, nghĩa, từ,. Có liên quan đến việc giải quyết các vấn đề trong luận án và trình bày quan điểm lý thuyết của tác giả luận văn. Chương hai: Chương này đi vào phân tích những đặc điểm ngữ nghĩa của các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp trong cấu tạo từ tiếng Việt. Trong chương này luận văn sẽ phân tích sâu về nghĩa gốc và nghĩa hiện nay của các hình vị gốc Hán khi tham gia vào tổ chức từ ghép.
Chương ba: Chương ba tập trung khảo sát các đặc điểm ngữ pháp của các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp trong cấu tạo từ tiếng Việt, chẳng hạn: + Khả năng kết hợp của chúng với các hình vị khác để cấu tạo từ. Với các hình vị đứng trước 2. Với các hình vị đứng sau + Khả năng kết hợp của các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp với các tư ø( khi chúng trong vai trò là từ ) với các từ khác để tạo nên ngữ cố định hoặc ngữ tự do. Ngoài phần chính văn nói trên, luận văn còn có phần phụ lục.
Phần phụ lục gồm các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp đã được thống kê để dễ dàng và thuận lợi cho việc tra cứu khi cần thiết.7 Một số quy ước về viết tắt và dùng ký hiệu: Để tinh giản trong lúc trình bày chúng tôi đã sử dụng một số chữ viết tắt và ký hiệu sau đây: [1.22] : Số thứ tự 1 ở thư mục, trang 22 TSXHT : Tần số xuất hiện thấp KNKH : Khả năng kết hợp 1 (- ) : Chỉ xuất hiện một lần (không có khả năng kết hợp khác) (+) : Có khả năng kết hợp với các yếu tố đứng trước hoặc sau 1 CHƯƠNG MỘT CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CƠ SỞ 1.1Khái niệm hình vị, các loại hình vị trong tiếng Việt 1.1 Khái niệm hình vị Một trong những đơn vị cơ bản của ngôn ngữ thường được xác định như một ký hiệu nhỏ nhất, tức là một đơn vị nhỏ nhất gắn liền với từ, trực tiếp hay gián tiếp gắn liền với môt ý nghĩa nhất định và không thể chia ra thành những đơn vị có nghĩa nhỏ hơn nữa; còn gọi là tiếng, tiếng một, từ tố, nguyên vị. Hình vị là đơn vị hình thái học không thể chia thành những đơn vị hình thái học nhỏ hơn, nó là yếu tố cấu tạo từ. Hình vị là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa. Thông thường người ta phân biệt trong hình vị thành căn tố và phụ tố.
Căn tố là hình vị mang ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa vật chất của từ; phụ tố lại phân chia thành biến tố, tiền tố, trung tố, hậu tố. Theo Nguyễn Thiện Giáp trong quyển Từ vựng học tiếng Việt, Nxb ĐH và TH Chuyên nghiệp-1985: Hình vị là đơn vị có nghĩa, được tái hiện như các từ, nhưng hình vị chỉ được phân xuất ra nhờ phân tích bản thân các từ, chúng không tồn tại độc lập mà nhập hẳn vào từ, không tách rời khỏi từ. Trong khi đó, từ là một mẫu tách biệt rõ ràng trong vật liệu xây dựng của ngôn ngữ, là thứ “gạch” như lời của viện sĩ L. Tóm lại: Hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa.
Đó là bộ phận nhỏ nhất cấu tạo nên từ. Một từ có thể có một hoặc nhiều hình vị. - Từ gồm mộ hình vị : bàn, giấy trong tiếng Việt hay the (mạo từ xác định), and ( và ) trong tiếng Anh. - Từ gồm hai hình vị: cái bàn, tờ giấy trong tiếng Việt hay Boy, s ( con trai, số nhiều) trong tiếng Anh.
1 - Từ gồm ba hình vị: công nghiệp hoá, văn hoá học trong tiếng Việt hay book, selve, s (Cái giá sách, số nhiều) trong tiếng Anh. Trong trường hợp vỏ ngữ âm của hình vị trùng với một âm vị ( ví dụ ; hình vị –S chỉ số nhiều của danh từ tiếng Anh) hay một âm tiết (ví dụ: nhà trong tiếng Việt thì ta vẫn cần phân biệt rạch ròi hai loại đơn vị: + Xét trên bình diện cái biểu hiện đó là âm vị hay âm tiết + Xét trên bình diện cái được biểu hiện thì đó là hình vị Trong số các đơn vị ngữ pháp, hình vị là đơn vị cơ sở của ngữ pháp. Quả thật đúng như vậy, câu còn có thể chia tách thành các từ tổ, từ tổ còn chia thành các từ, và từ còn được chia thành các hình vị. Trong khi đó hình vị là một khối liền, không thể chia tiếp thành những đơn vị có nghĩa được nữa.
Đặc điểm “nhỏ nhất” này (đặc điểm về ngữ nghĩa cấu tạo) giúp ta phân biệt hình vị với những đơn vị ngữ pháp khác.2 Hình vị trong tiếng Việt Hình vị trong tiếng Việt có thể một mình làm thành từ cũng có thể làm thành tố cấu tạo từ. Nếu hiểu ý nghĩa có thể là ý nghĩa từ vựng mà cũng có thể là ý nghĩa ngữ pháp thì ta nói rằng: Hình vị là cái đơn vị nhỏ nhất có ý nghĩa, là cái đơn vị gốc để tạo thành từ.”( Nguyễn Anh Quế. Giáo trình lí thuyết tiếng Việt Trường ĐHTHHN, 1976, Tr. Nếu đúng theo những điều kiện mà ngôn ngữ học thế giới đã chấp nhận thì hình vị tiếng Việt phải có ba điều kiện: - Có nghĩa; - Nhỏ nhất; - Có thể dùng để cấu tạo từ (với cùng một nghĩa hoặc cùng chức năng) 1 Đặc điểm cơ bản của hình vị tiếng Việt là hình vị thường vỏ ngữ âm là một âm tiết.
Ví dụ: Câu thơ “ Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió” ( Hồ Chủ Tịch) có 8 hình vị và cũng là 8 âm tiết. Hình vị tiếng Việt là đơn vị cơ sở của cấu trúc ngữ pháp, yếu tố nhỏ nhất có nghĩa và được lập lại nhiều lần cùng một nội dung. Về nghĩa, có ba loại : nghĩa từ vựng , nghĩa khu biệt, nghĩa ngữ pháp. Mỗi hình vị tiếng Việt có một ý nghĩa nhất định.
Nghĩa đó có thể là nghĩa từ vựng hay nghĩa biểu cảm hoặc nghĩa ngữ pháp. Đặc điểm cơ bản của hình vị tiếng Việt là thường có hình thức cấu tạo một âm tiết, tức là mỗi hình vị trùng với một âm tiết. Các hình vị một âm tiết có thể trực tiếp tạo ra từ. Trong tiếng Việt, hình vị còn được gọi là tiếng.
Dựa vào tiêu chí khối lượng (vỏ vật Chất), theo cách nhìn của chúng tôi thì chỉ có một loại. Hình vị của tiếng Việt được thể hiện đồng loạt trong những âm tiết có biên giới rất rõ ràng và không bao giờ biết đến hiện tượng phụ âm cuối nhảy sang âm tiết sau làm thay đổi diện mạo của nó đi. Mà âm tiết vốn là đại lượng âm thanh nhỏ nhất, là một đơn vị tri giác có diện mạo toàn vẹn, không thể coi là tổng số của các thành phần của nó, là đoạn âm thanh nhỏ nhất có thể cắt ra bằng những nhát thẳng góc với trục thời gian. Từ đó ta có thể thấy rằng trong một ngôn ngữ mà mỗi âm tiết làm thành một đơn vị mang nghĩa, nhất là một từ thì điều kiện nhận diện và giải mã sẽ đạt đến mức tối ưu.
Dựa vào tiêu chí ngữ nghĩa, theo quan điểm của chúng tôi hình vị tiếng Việt được chia làm hai loại: Hình vị thực : là hình vị mang nghĩa từ vựng, tên gọi chung cho các hình vị thân từ và các hình vị cấu tạo từ, tức là các hình vị biểu thị ý nghĩa từ vựng và phân biệt với các hình vị biến tố là các hình vị biểu 1 hiện ý nghĩa ngữ pháp. “cơ sở vật chất chủ yếu để cấu tạo từ tiếng Việt là nguyên vị thực. Mọi nguyên vị trong tiếng Việt đều không biến hình”. Ví dụ: ruộng, vườn trong ruộng vườn; đất, nước trong đất nước; anh, em trong anh em Hình vị hư: Là hình vị mang nghĩa ngữ pháp.
Cần phân biệt các hình vị hư miêu tả với các hình vị hư phát ngôn. Các hình vị hư miêu tả gồm: hình vị hư từ loại, hình vị hư tình thái và hình vị hư quan hệ. Dựa vào năng lực hoạt động ngữ pháp, có thể căn cứ vào “ khả năng hoạt động tự do hay không” để chia các hình vị thành hai loại: - Hình vị tự do: Là hình vị có khả năng hoạt động tự do trong lời nói với tư cách từ. Chúng là những hình vị mà tự thân một mình đã đủ khả năng tạo thành từ.
Ví dụ: mua, bán, thương,. - Hình vị hạn chế: Là hình vị không có khả năng hoạt động tự do và được dùng để kết hợp với các hình vị khác để cấu tạo từ và cụm từ. Hình vị là những hình thức ngữ âm cố định, bất biến, nhỏ nhất với dạng chuẩn tối thiểu là một âm tiết tự thân có nghĩa (nghĩa miêu tả hay nghĩa tương liên) có thể chịu tác động của các phương thức tạo từ để tạo ra từ. Sự phân loại hình vị sẽ lấy chức năng ngữ nghĩa của chúng làm nguyên tắc.
Do vậy, xem xét ở chức năng và sự biến đổi ý nghĩa thì sẽ thấy một yếu tố khi là từ và khi là hình vị (có chức năng tạo từ) thì có những sự chuyển hoá khác nhau. Ví dụ, máy trong xe máy, dệt máy,. có ý nghĩa khác với chính nó trong trường hợp sử dụng như từ chuyển các cỗ máy mới. Cùng với sự chuyển hoá về nghĩa là sự chuyển hoá về từ - ngữ pháp.
Có thể nói, khi một yếu tố tự do được dùng như hình vị thì nó mất đi những đặc điểm ngữ pháp đặc trưng cho nó. Nói một cách khác, một yếu tố tự do có thể được dùng 1 ở hai chức năng khác nhau, thuộc hai cấp độ khác nhau: chức năng hình vị và chức năng từ. Để thực sự làm nổi rõ giá trị cấu tạo từ của các hình vị, có thể phân loại chúng theo tiêu chí sau đây: Thứ nhất, theo tính năng sản, có nghĩa là theo khả năng tạo ra nhiều hay ít các từ phức của hình vị. Trong tiếng Việt những hình vị có ý nghĩa sự vật như xe, cá, tàu, máy, thợ,.
tính năng sản của chúng rất lớn, với chúng có thể tạo ra hàng loạt từ ghép chỉ những sự vật hiện tượng cùng hệ thống; Thứ hai, theo khả năng tham gia vào các phương thức cấu tạo từ.