phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục gồm có bốn chƣơng chính nhƣ sau: 1/ Chƣơng 1: Cơ sở lí thuyết. Trong chƣơng này, luận án giới thiệu một số lí thuyết về một số vấn đề liên quan đến đề tài của chúng tôi là vị từ, vị từ tiếng Việt, vị từ quá trình và vị từ quá trình tiếng Việt. 2/ Chƣơng 2: Nhận diện và phân loại vị từ quá trình tiếng Việt. Trong chƣơng này, luận án giới thiệu hai vấn đề quan trọng của vị từ quá trình tiếng Việt là cách nhận diện và cách phân loại vị từ quá trình tiếng Việt.
3/ Chƣơng 3: Đặc điểm ngữ nghĩa-ngữ pháp của vị từ quá trình vô tác tiếng Việt. Trong chƣơng này, luận án tập trung phân tích và mô tả đặc điểm ngữ nghĩa-ngữ pháp của vị từ quá trình vô tác tiếng Việt và vai trò của chúng trong việc tổ chức cấu trúc ngữ nghĩa-ngữ pháp của câu. 4/ Chƣơng 4: Đặc điểm ngữ nghĩa-ngữ pháp của vị từ quá trình hữu tác tiếng Việt. Trong chƣơng này, luận án tập trung phân tích và mô tả đặc điểm ngữ nghĩa-ngữ pháp của vị từ quá trình hữu tác tiếng Việt và vai trò của chúng trong việc tổ chức cấu trúc ngữ nghĩa-ngữ pháp của câu.
9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT Trong chƣơng này, để có cơ sở cho việc phân tích và mô tả đặc điểm ngữ nghĩa- ngữ pháp của vị từ quá trình tiếng Việt trong các chƣơng sau, luận án giới thiệu một số quan điểm của các nhà Ngôn ngữ học trong và ngoài nƣớc về vị từ, vị từ tiếng Việt, vị từ quá trình và vị từ quá trình tiếng Việt. VỊ TỪ TRONG CẤU TRÚC NGỮ NGHĨA-NGỮ PHÁP CỦA CÂU 1. Quan điểm của các nhà Ngôn ngữ học trên thế giới 1. Năm 1959, cuốn sách “Éléments de syntaxe structural” của L.
Tesnière đã đƣợc xuất bản ở Paris. Mặc dù nhan đề của cuốn sách là “Các yếu tố của cú pháp cấu trúc” nhƣng nội dung thực sự mà nó đề cập đến chủ yếu lại là ngữ nghĩa và với tác phẩm này ông đƣợc coi là ngƣời đặt nền móng cho nghĩa học cú pháp. (noeud), quyết định số lƣợng cũng nhƣ tính chất của các diễn tố. Chủ ngữ của câu, theo ngữ pháp truyền thống là một trong những yếu tố quan trọng nhất của câu và thƣờng đứng vị trí đầu tiên trong các công trình nghiên cứu về câu trƣớc đó nhƣng với L.
Tesnière chỉ là thành phần thứ yếu. Nó chỉ là một bổ ngữ cho vị từ. Nó phụ thuộc vào vị từ giống nhƣ các bổ ngữ khác. Trong các lƣợc đồ biểu thị cú pháp của câu trong tác phẩm của ông, vị từ luôn chiếm vị trí cao nhất.
Ví dụ: 1) Câu “Alfred peut donner le livre à Charles” (Alfred có thể cho Charles cuốn sách ấy) đƣợc biểu diễn nhƣ sau: peut Alfred donner le livre à Charles (Dẫn theo [27, tr. 42]) 10 2) Hay câu “Alfred frappe Bernard” (Alfred đánh Bernard) đƣợc biểu diễn nhƣ sau: frappe Alfred Bernard [137] Trong khi đó, cũng câu này, ngữ pháp truyền thống biểu diễn nhƣ sau: Alfred frappe Bernard [137] Trong ngữ pháp truyền thống, chủ ngữ đứng ngang hàng với vị từ nhƣng trong ngữ pháp của L. Tesnière thì chủ ngữ lại đứng ở hàng dƣới, phụ thuộc vào vị từ cũng giống nhƣ bổ ngữ. Mỗi vị từ có một diễn trị riêng thể hiện qua số lƣợng diễn tố của nó.
Có vị từ có diễn trị zero (vô diễn trị) nhƣ “pluit” (mƣa) (il pleut-trời mƣa). Có vị từ đơn trị (monovalents) chỉ có một diễn tố nhƣ “tomber” (ngã). Có vị từ song trị (bivalents) có hai diễn tố nhƣ “frapper” (đánh). Có vị từ tam trị (trivalents) có ba diễn tố nhƣ “donner” (cho, tặng).
Khi nói về các diễn tố, L. Tesnière phân biệt ba loại diễn tố là đệ nhất diễn tố, đệ nhị diễn tố và đệ tam diễn tố. Đệ nhất diễn tố chỉ chủ thể hành động, đệ nhị diễn tố chỉ đối tƣợng của hành động và đệ tam diễn tố chỉ ngƣời hƣởng lợi trong hành động. Trong ba diễn tố này theo ông đệ nhất diễn tố là diễn tố quan trọng nhất, nó có mặt ở tất cả các vị từ không phải là vị từ vô trị và có thể giữ cái tên gọi “chủ ngữ” cho nó.
(Dẫn theo [27, tr. Bên cạnh diễn tố, là các vai nghĩa bắt buộc, còn có các chu tố (circontants) là các vai nghĩa không bắt buộc trong biểu thị ý nghĩa của câu. Các chu tố biểu thị các ý nghĩa về thời gian, nơi chốn, phƣơng thức, v. của sự tình do vị từ trung tâm biểu thị.
Các chu tố tƣơng đƣơng với các phó từ hay trạng từ (adverbes). Nếu nhƣ các diễn tố có số 11 lƣợng hạn chế thì các chu tố, ngƣợc lại, không có số lƣợng hạn chế. Và nếu nhƣ các diễn tố thuộc cái nút của vị từ (noeud verbal) thì các chu tố lại không thuộc cái nút đó. Nhƣ vậy, đối với L.
Tesnière, vị từ không chỉ là yếu tố trung tâm trong cấu trúc ngữ nghĩa mà cả trong cấu trúc cú pháp (CTCP). Bài viết The case for case (Tác dụng của Cách) là một trong số những bài viết nổi tiếng nhất của C. Công trình này của C. Fillmore tập trung làm rõ mối quan hệ mà ông gọi là quan hệ cách giữa vị từ và các tham tố (arguments) của nó.
Theo ông, một sự tình bao gồm một vị từ trung tâm và các tham tố của nó là những ngữ đoạn biểu thị những cách ngữ nghĩa hay vai nghĩa nào đó. Trong các công trình của mình, ông đã đề xuất các quan hệ cách sau: Tác thể (Agentive), Công cụ (Instrument), Tặng cách (Dative), Tạo thể (Factitive), Vị trí (Locative), Đối thể (Objective), Lợi thể (Benefactive), Liên đới thể (Comitative), Thời gian (Time), Nguồn (Source), Đích (Goal), Hƣớng (Direction), Khoảng cách (Extent). Danh sách các cách của ông sau đó đã đƣợc các tác giả theo khuynh hƣớng của ông chỉnh lí, bổ sung thêm. Có thể kể thêm một số cách sau: Đối thể/ Bị thể (Patiens), Đƣơng thể (hay Quá thể) (Undergoer hay Processsed), Lực (Force), Kẻ mang tƣ thế (Positioner), Tuyến đƣờng (Path), Đích (Terminus), Nguyên nhân (Cause), Kết quả (Result).
(Dẫn theo [27, tr. Dik cũng là một trong những nhà ngôn ngữ đề cao vai trò của vị từ trong cấu trúc ngữ nghĩa cũng nhƣ trong CTCP của câu. Theo ông, “các đơn vị từ vựng có „tính nội dung‟ đơn giản (động từ, tính từ, danh từ) được xử lí như những vị từ cơ bản theo quy tắc của Bach (1968). Chúng được cho sẵn trong vốn từ vựng, và ở đó được cung cấp tất cả những thông tin quan yếu đối với thái độ ngữ nghĩa và cú pháp của chúng trong các biểu thức ngôn ngữ học.
Những thông tin đƣợc chứa đựng trong khung vị từ này gồm có: (i) hình thức từ vựng của vị từ. (ii) phạm trù cú pháp của vị từ: Đƣợc chỉ định bằng một nhãn (V(erbal), A(jectival), N(ominal)) trên vị từ. (iii) số tham tố mà vị từ đòi hỏi: Mỗi khung vị từ có số lƣợng các tham tố khác nhau. Số lƣợng tham tố tuỳ thuộc vào đặc điểm của vị từ.
Có vị từ chỉ có một tham tố 12 nhƣng có vị từ có thể có hai hay ba tham tố. Theo kinh nghiệm của ông, một kết cấu vị ngữ hạt nhân khó có thể có hơn bốn tham tố. (iv) những hạn định mà vị từ đòi hỏi ở các vai nghĩa của nó: Những hạn định chọn lựa mà vị từ nêu ra đảm bảo sự tƣơng hợp giữa vị từ và các ngữ định danh đƣợc điền vào các vị trí tham tố trong kết cấu vị ngữ hạt nhân. (v) các chức năng ngữ nghĩa của tham tố.
Dik đã nêu một số chức năng ngữ nghĩa hạt nhân sau: 1/ Tác thể (Agent), 2/ Đích (Goal), 3/ Tiếp thể (Recipient), 4/ Hƣớng (Direction), 5/ Nguồn (So), 6/ Kẻ mang tƣ thế (Positioner), 7/ Vị trí (Location), 8/ Kẻ chịu tác động của quá trình (Processed), 9) Lực (Force), 10/ Zero (Ø), 11/ Thời gian (Time), 12/ Lợi thể (Beneficiary), 13/ Công cụ (Instrument), 14/ Kẻ trải nghiệm (Experiencer). Minh hoạ cho quan điểm của mình ông đã đƣa ra khung vị từ cơ bản sau: givev (x1: human (x1))Ag (x2)Go (x3: animate (x3))Rec [15, tr. 29] Trong khung vị từ trên, “v” cho biết “give” là một vị từ-động từ (verbal predicate); các biến “xi” đánh dấu vị trí các tham tố; Ag (agent: Tác thể), Go (go: Đích), Rec (recipient: Tiếp thể) đánh đấu chức năng ngữ nghĩa của các tham tố. Các biểu thức “human (x1)” và “animate (x3)” (ngƣời và động vật) chỉ định những hạn lệ chọn lựa ở Tác thể và Tiếp thể.
Trong khung vị từ cơ bản của S. Dik, thuật ngữ “tham tố” (arguments) mà ông sử dụng đƣợc hiểu là yếu tố bắt buộc, cần thiết của vị từ và nhƣ vậy nó tƣơng đƣơng với khái niệm “diễn tố” (actants) chứ không tƣơng đƣơng với khái niệm “tham tố” (participants) bao gồm diễn tố (actants) và chu tố (circontants) theo quan điểm của L. Kế thừa sự phân biệt các chức năng ngữ nghĩa của C. Fillmore nhƣng một số chức năng ngữ nghĩa trên của ông có nội dung khái niệm không giống nhƣ quan điểm của C.
Trong số đó có thể kể đến các chức năng ngữ nghĩa nhƣ Công cụ (Instrument), Đích (Goal), Kẻ trải nghiệm (Experiencer). Chẳng hạn, ông đã phân tích cặp câu sau: 1) John opened the door with the key. 2) The key opened the door. Fillmore gán chức năng Công cụ cho ngữ định danh “the key” trong cả hai câu.
Trong khi đó, theo ông, chỉ có “the key” trong câu 1) là có chức năng Công cụ, là chu tố của kết cấu vị ngữ hạt nhân còn trong câu 2) nó mang chức năng Lực và là một tham tố của vị từ “open”. Dik đã đƣa ra 18 cấu trúc kết hợp các chức năng ngữ nghĩa hạt nhân gắn với bốn kiểu sự tình cơ bản nhƣ sau: Hành động Ag JohnAg ran away Ag Go JohnAg read a bookGo Ag Go Rec JohnAg gave a bookGo to PeterRec Ag Go Dir JohnAg sent a bookGo to LondonDir Ag Go So JohnAg took a bookGo from the shelfSo Tư thế Po JohnPo stayed motionless Po Loc JohnPo was sitting in his chairLoc Po Go Loc JohnPo kept his moneyGo in an old sockLoc Po Go JohnPo kept the presentGo Quá trình Proc JohnProc fell down Fo The windFo was blowing hard Fo Go The windFo opened the doorGo Fo Go Rec The climateFo gave JohnRec new strengthGo Fo Go Dir The windFo blew the leavesGo into the kitchenDir Fo Go So The windFo swept the papersGo from the tableSo Trạng thái Ø RoseØ are red ØØ That manØ is the killerØ Ø Loc The cupØ is on the tableLoc [15, tr. 55-56] 14 Các cấu trúc hạt nhân nêu trên nếu đƣợc bổ sung thêm chu tố (satellites) [15, tr. 31] sẽ cho các cấu trúc mở rộng.