Chương 1 TỔNG QUAN NGHIỆP VỤ 1. Giới thiệu về giới động vật Động vật là một nhóm sinh vật chính, được phân loại là giới động vật (Animalia) trong hệ thống phân loại 5 giới. Nhìn chung, động vật là các cơ thể đa bào hoặc đơn bào, có khả năng di chuyển và đáp ứng với môi trường, có thức ăn là các sinh vật khác (dị dưỡng). Do đó, người ta phân giới động vật ra thành những giới phụ như: giới phụ động vật đơn bào (protozoa), giới phụ động vật đa bào trung gian (parazoa), giới phụ động vật đa bào (metazoa).
Sơ đồ cấu tạo cơ thể động vật đã được quy định nghiêm ngặt trong quá trình phát triển cơ thể (ontogeny) từ giai đoạn phôi đến các giai đoạn phát sinh hình thái (metamorphosis) sau đó. Phân loại động vật 1. Phân loại theo sự phân cấp Giới phụ động vật đa bào (metazoa) được phân loại theo các cấp từ cấp cao nhất đến những cấp thấp hơn. Cấp cao nhất trong mỗi giới là ngành, trong mỗi ngành có nhiều lớp, trong mỗi lớp lại được chia thành các bộ khác nhau, trong mỗi bộ lại được phân thành các họ, mỗi họ lại bao gồm nhiều chi.
Các loài động vật thuộc một chi nhất định trong sơ đồ phân cấp. Cụ thể như sau: Ngành Ngành được công nhận là cấp lớn nhất của các giới động vật. Hiện nay người ta đã biết khoảng 35 ngành động vật, trong đó có 9 ngành chiếm phần lớn các loài. Nhiều ngành chỉ tồn tại trong lòng đại dương, và chỉ duy nhất một ngành là hoàn toàn không có trong các đại dương của thế giới, đó là ngành giun có móc (Onychophora).
Theo thời gian, vai trò của các ngành cũng thay đổi. Ví dụ, trong kỉ Cambri, quần động vật lớn, thống lĩnh là ngành chân khớp (Arthropoda), trong khi hiện nay, quần Sinh viên thực hiện: Lương Thị Trúc Đào – MSSV: 811060T Trang 8 Nguyễn Thị Thanh Xuân – MSSV: 811055T Luận văn tốt nghiệp Giảng viên hướng dẫn: Th.S NGUYỄN TRUNG TRỰC động vật lớn thống lĩnh lại là động vật có xương sống của ngành dây sống (Chodarta). Có sự sai khác lớn trong cấu tạo giải phẫu của đại diện các ngành này. Ví dụ như phần lớn các động vật có cấu tạo đối xứng hai bên, thì các động vật thuộc ngành da gai, ruột khoang có đối xứng tỏa tròn, các loài chân khớp và cả giun đốt có cấu trúc chia đốt, mỗi đốt chứa các cơ quan gần như giống nhau… Ví dụ: các ngành động vật được biết đến nhiều nhất hiện nay là: Ngành Ngành chân Ngành xoang Ngành giun đốt khớp tràng (Cnidaria) động vật có (Anelida) (Arthropoda) dây sống (Chodarta) Giới phụ động vật đa bào Ngành Ngành Ngành giun Ngành giun thân mềm thân lỗ tròn dẹp …… (Molusca) (Porifera) (Nemathel (Platyhelmi minthes) nthes) Hình 1.1 Cấu trúc tổng quát của giới phụ động vật đa bào với các ngành chính Lớp Trong phân loại sinh học, lớp là cấp bậc nằm dưới ngành và trên bộ.
Trong mỗi ngành lớn, người ta phân loại những nhóm động vật có những thuộc tính chung nào đó với nhau thành một cấp nhỏ hơn gọi là lớp. Các lớp trong cùng một ngành cùng có những đặc điểm chung của ngành đó. Ví dụ các lớp phổ biến nhất trong ngành động vất có dây sống, thuộc ngành phụ động vật có xương sống có cùng những đặc điểm chung của ngành động vật có dây sống như: cơ thể được cấu tạo có dây sống, đây là một ngành tiến hóa nhất, tồn tại phổ biến và đa dạng hiện nay…. Sinh viên thực hiện: Lương Thị Trúc Đào – MSSV: 811060T Trang 9 Nguyễn Thị Thanh Xuân – MSSV: 811055T Luận văn tốt nghiệp Giảng viên hướng dẫn: Th.S NGUYỄN TRUNG TRỰC Ngành động vật có xương Lớp miệng tròn Lớp cá sụn sống (Cyclostomata) (Chondrichthyes) (Chordarta) Lớp cá xương Lớp lưỡng Lớp bò Lớp Lớp thú (Osteichthyes) thê sát chim (Mammalia) (Anphibia) (Reptilia) (Aves) Hình 1.2 Các lớp thuộc ngành động vật có xương sống Bộ Bộ là đơn vị phân cấp dưới lớp và trên họ trong phân loại sinh học.
Bộ gồm tập hợp những cá thể có cùng một số đặc điểm riêng nào đó trong một lớp. Bộ là một cấp đặc biệt trong phân loại sinh học và nó có tên riêng đặc biệt để phân biệt của chính mình. Trong động vật học, các bộ theo Linnaeus đã được sử dụng một các ổn định hơn, điều đó có nghĩa là các bộ trong phần động vật học của Systema Naturae là chỉ tới các nhóm tự nhiên của động vật. Một vài tên gọi các bộ của Linnaeus vẫn còn được sử dụng hiện nay (ví dụ như Lepidoptera cho một bộ chứa các loài bướm đêm và bướm ngày hay Diptera cho bộ chứa các loài ruồi, muỗi, ruồi nhuế, muỗi vằn,…).
Một số ví dụ về các bộ thuộc lớp động vật lưỡng thê và những bộ trong lớp bò sát Sinh viên thực hiện: Lương Thị Trúc Đào – MSSV: 811060T Trang 10 Nguyễn Thị Thanh Xuân – MSSV: 811055T Luận văn tốt nghiệp Giảng viên hướng dẫn: Th.S NGUYỄN TRUNG TRỰC Lớp lưỡng thê (Amphibia) Bộ lưỡng thê Bộ lưỡng Bộ lưỡng thê có đuôi thê không không đuôi (Caudata chân (Ecaudata hay Urodela) (Apoda) hay Anura) Hình 1.3 Các bộ thuộc lớp lưỡng thê Lớp bò sát (Reptilia) Bộ chủy đầu Bộ có vảy Bộ rùa Bộ cá sấu (Rhynchocep (Squamata) (Chelonia) (Crocody halia) lia) Hình 1.4 Các bộ thuộc lớp bò sát Họ Họ (tiếng La Tinh familia, số nhiều familiae) là một đơn vị cao hơn chi và thấp hơn bộ động vật. Trong phân loại sinh học, họ là một cấp, hay một đơn vị phân loại của cấp này. Các chi tiết chính xác về danh pháp chính thức phụ thuộc vào quy tắc danh pháp nào được áp dụng. Sinh viên thực hiện: Lương Thị Trúc Đào – MSSV: 811060T Trang 11 Nguyễn Thị Thanh Xuân – MSSV: 811055T Luận văn tốt nghiệp Giảng viên hướng dẫn: Th.S NGUYỄN TRUNG TRỰC Bộ rùa (Chelonia) Họ rùa Họ rùa vỏ Họ rùa Họ rùa biển mềm Chelydridae Kinostern …….5 Các họ trong bộ rùa Chi Một số tài liệu phân loại học trong tiếng Việt gọi là giống (tiếng La Tinh số ít gọi là genus, số nhiều gọi là genera).
Chi là một đơn vị phân loại sinh học dùng để chỉ một hoặc một nhóm loài có kiểu hình tương tự và mối quan hệ tiến hóa gần gũi với nhau. Trong danh pháp hai phần, in nghiêng, tên chi là chữ thứ nhất, được viết hoa, chữ thứ hai dung để chỉ một đặc điểm nổi bật của loài. Ví dụ loài người có tên khoa học là Homo sapiens, thuộc chi Homo; loài hổ có tên khoa học là Panthera tigris, thuộc chi Panthera. Loài Trong phân loại sinh học, loài là cấp bậc nhỏ nhất, dưới chi.
Loài có những đặc điểm cụ thể nhất, phân biệt nhóm sinh vật này và nhóm sinh vật khác. Theo nghĩa rộng, loài là một nhóm các thể sinh vật mà có những đặc điểm sinh học tương đối giống nhau và có khả năng giao phối với nhau Còn theo định nghĩa của Ernst Mayr, loài là nhóm các quần thể tự nhiên có khả năng giao phối với nhau và tương đối cách ly sinh sản với các nhóm khác. Ví dụ về các loài trong chi rắn lục (Opheodrys), thuộc họ Colubridae, bộ có vảy Squamata, lớp bò sát (Reptilia), ngành động vật có dây sống (Chordata) Sinh viên thực hiện: Lương Thị Trúc Đào – MSSV: 811060T Trang 12 Nguyễn Thị Thanh Xuân – MSSV: 811055T Luận văn tốt nghiệp Giảng viên hướng dẫn: Th.S NGUYỄN TRUNG TRỰC Bộ có vảy (Squamata) Họ rắn đào hang …………. Anilidae Họ rắn bùn Họ Họ rắn sông Xenopeltidae Colubridae Achrochordidae Chi rắn Chi rắn Chi rắn vua mũi lá lục (Lampropel (Phyllorhy (Opheod tis) ……….
nchus) rys) Loài rắn Loài rắn Loài rắn lục cườm lục sừng lục tre ………….6 Sơ đồ phân cấp một số loài thuộc chi rắn lục (Opheodrys) trong họ Colubridae thuộc bộ có vảy (Squamata) 1. Phân loại theo tình trạng hiện nay Cách đây khoảng 1 tỷ năm, các tế bào bơi lội trong nước đã sinh sôi nảy nở và tập hợp lại với nhau. Bằng cách này, các tế bào đã cho ra đời mọi loài sinh vật. Những động vật đầu tiên sinh ra trong nước biển cách đây 650 triệu năm.
Chúng có thân mềm, giống như loài sứa hay giun. Các động vật có vỏ xuất hiện cách đây khoảng 540 triệu năm. Tiếp theo là sự phân hóa và phát triển của ngành không xương sống, thân mềm và sâu bọ, cá, bò sát, chim và sau cùng là động vật có vú. Sinh viên thực hiện: Lương Thị Trúc Đào – MSSV: 811060T Trang 13 Nguyễn Thị Thanh Xuân – MSSV: 811055T Luận văn tốt nghiệp Giảng viên hướng dẫn: Th.S NGUYỄN TRUNG TRỰC Theo thời gian, động vật có sự tiến hóa về hình dạng và cấu tạo cơ thể nhằm thích nghi với đời sống.
Tuy nhiên, từ vài thế kỷ nay, nhiều loài động vật đã biến mất hẳn khỏi trái đất. Sự biến mất của các loài động vật là một hiện tượng tự nhiên, đôi khi có liên quan đến các thảm họa tự nhiên như trường hợp của loài khủng long. Song trong bốn thế kỷ qua, con người phải chịu trách nhiệm trực tiếp về sự biến mất của hơn một trăm loài động vật lớn và hiện tượng này ngày càng gia tăng, đe dọa nhiều loài động vật khác. Chính vì vậy, người ta đã phân loại động vật thành 3 nhóm dựa theo tình trạng tồn tại hiện nay của chúng: nhóm động vật đã tuyệt chủng, nhóm đang có nguy cơ tuyệt chủng và nhóm động vật tồn tại phổ biến.
Nhóm đã tuyệt chủng Những loài động vật từng sinh sống trong các thời kì trước và hiện giờ đã không còn tồn tại. Ví dụ như: Sự biến mất của loài chó sói có túi. Chó sói có túi là những động vật ăn thịt giống như sói vằn. Chúng sống rất đông đúc ở Austraulia.
Song những con chó rừng Châu Úc và chó hoang đã đến nơi này và dần đuổi chúng ra khỏi lãnh địa của mình. Chó hoang là những kẻ săn mồi hiệu quả hơn chó sói có túi rất nhiều. Vì vậy, chó sói có túi không còn kiếm ăn được nữa và biến mất dần. Đồng thời con người đã thực sự tiêu diệt sói có túi, những người nông dân buộc tội chúng tấn công các đàn cừu của mình.
Vì vậy, thợ săn đã giết tất cả các con sói có túi. Con cuối cùng đã chết ở vườn thú cách đây hơn 60 năm. Bị săn để lấy bộ lông, hổ Bali đã hoàn toàn biến mất từ năm 1937. Những loài hổ khác cũng đang đứng trước nguy cơ bị đe dọa.
Trên thế giới chỉ còn khoảng 7000 con hổ. Wallaby de Grey là một loài kangourou nhỏ của Australia. Con người đã săn bắt nó để lấy bộ lông được bán rất đắt tiền. Nó đã biến mất từ năm 1924.
Chim gõ kiến mõ ngà sống trong các khu rừng Châu Mỹ.