phần mở đầu và kết luận, bố cục luận văn gồm các chƣơng: Chƣơng 1: Khái quát đặc điểm cấu trúc địa chất và bối cảnh địa động lực liên quan với các thành tạo granitoid vùng Tây Bắc Việt Nam. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết và phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Đặc điểm thành phần vật chất các đá granitoid Mesozoi muộn – Cenozoi vùng Tấy Bắc Việt Nam. Chƣơng 4: Phân loại địa hoá các granitoid Mesozoi muộn – Cenozoi vùng Tấy Bắc Việt Nam.
Khoá luận đƣợc hoàn thành dƣới sự hƣớng dẫn tận tình và sự quan tâm sâu sắc của TS. Nguyễn Trung Chí, Viện Dầu khí Việt Nam – Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam. Em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến thầy hƣớng dẫn, ngƣời đã đƣa ra ý tƣởng và giúp đỡ em hoàn thành bản luận văn. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Học viên cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáo trong Khoa Địa chất, Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên – ĐHQGHN đã tạo điều kiện cho học viên trong suốt quá trình học tập cũng nhƣ hoàn thành luận văn.1: Sơ đồ phạm vi vùng nghiên cứu.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT VÀ BỐI CẢNH ĐỊA ĐỘNG LỰC LIÊN QUAN VỚI CÁC THÀNH TẠO GRANITOID VÙNG TÂY BẮC VIỆT NAM 1. Lịch sử nghiên cứu. Diện tích nghiên cứu của luận văn đƣợc giới hạn từ đứt gãy sông Hồng ở phía Đông Bắc và đứt gãy sông Đà ở phía Tây Nam.
Vùng Tây Bắc có những dãy núi cao nhƣ dãy Hoàng Liên Sơn với đỉnh cao nhất là Phan Si Pan (cao 3143m). Diện tích nghiên cứu có vị trí cấu trúc và lịch sử phát triển địa chất rất đặc biệt trong bình đồ cấu trúc lãnh thổ và Đông Nam Châu Á; đã đƣợc nhiều nhà địa chất trong, ngoài nƣớc nghiên cứu từ lâu và đến nay vẫn còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục tranh luận và làm sáng tỏ. Các thành tạo magma Việt Nam từ lâu đã đƣợc nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu và đƣa ra những sơ đồ phân chia khác nhau. Trên cơ sở tổng hợp các tài liệu nghiên cứu đã có, có thể khái quát về lịch sử nghiên cứu địa chất khu vực và granitoid ở Tây Bắc Việt Nam theo các giai đoạn sau: 1.
Giai đoạn trước năm 1954. Ngay từ thập kỉ đầu tiên của thế kỷ XX, các nhà địa chất Pháp đã áp dụng thuyết địa di và phần nào thuyết trôi dạt lục địa để giải thích các vấn đề của địa chất Đông Dƣơng mà đặc biệt là vùng TBVN. Trong giai đoạn này địa chất Đông Dƣơng nói chung và Việt Nam nói riêng chủ yếu do ngƣời Pháp tiến hành. Lúc đầu việc nghiên cứu địa chất còn mang tính tản mạn.
“Bản đồ địa chất Đông Dƣơng” tỷ lệ 1/4. Fuchs, 1882) chỉ là những nét phác thảo sơ lƣợc về cấu tạo địa chất Đông Dƣơng. đã có những công trình nghiên cứu chuyên đề hoặc tổng hợp về địa tầng ở Đông Dƣơng và Vân Nam (1913, 1914, 1915) mà thành công nhất là những nghiên cứu về cổ sinh vật trong phân chia địa tầng. (1921) trong nghiên cứu của mình đã phản ánh rõ nét các địa chất 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vùng Bắc Trung Bộ đến hạ lƣu Sông Đà.
Bản đồ địa chất 1:1.000 đầu tiên ở vùng Vạn Yên (thuộc TBVN) do L. Những quan điểm cơ bản về vị trí địa chất và sự phân chia theo tuổi các thành tạo magma Việt Nam cũng nhƣ toàn Đông Dƣơng đƣợc chứa đựng chủ yếu trong các công trình nghiên cứu của J. (1933,1937,1952) trong công trình về địa chất Tây Bắc Bắc Bộ và Thƣợng Lào đã chia các thành hệ địa chất theo “vật liệu” của “loạt nền móng” và “loạt Đông Dƣơng – Himalaya”. Trong công trình này thuyết địa di vẫn là quan niệm chủ đạo với một số phân chia mới trong địa tầng khu vực và yếu tố cấu trúc địa phƣơng.
Trong thời gian này các nhà địa chất Pháp đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu thạch luận magma kiềm (aegirin) đƣợc mô tả lần đầu tiên trong các đá magma vùng Phong Thổ - Lai Châu bởi Idding (1913). Tiếp đến các đá “cocit” và “tinguait” đƣợc mô tả ở Cốc Pìa – Lai Châu (TBVN) bởi Lacroix (1928,1933) dƣới dạng các đai mạch cắt syenit kiềm, granit kiềm. Trong khi đó Fromaget (1933), cũng phát hiện các đai mạch kiềm nhƣ vậy ở Sin Cao – Đông Bắc Lai Châu tiêm nhập vào trong các trầm tích Trias. Các tài liệu phân tích hóa học đá magma nêu trên của các nhà địa chất Pháp có giá trị rất cao trong những nghiên cứu thạch luận sau này.
Giai đoạn sau 1954. Đầu những năm 60 của thế kỷ trƣớc việc nghiên cứu magma đƣợc các nhà địa chất Xô Viết và Việt Nam tiến hành gắn liền với nhiệm vụ đo vẽ bản đồ địa chất và 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com điều tra khoáng sản ở tỷ lệ trung bình. Trong công trình “Bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam” tỷ lệ 1/500. Dovjicov và nnk, 1965) lần đầu tiên vùng Tây Bắc Việt Nam đƣợc nghiên cứu tƣơng đối đầy đủ về địa tầng, magma, kiến tạo theo quan điểm phân chia các đới tƣớng đá – cấu trúc.
Các đá magma kiềm đƣợc Izokh (1965) nghiên cứu và xếp vào loạt Fansipan bao gồm các phức hệ Phu Sa Phin, Đèo Mây, Mƣờng Hum – Pia Ma, Nậm Xe – Tam Đƣờng, Yê Yên Sun, Sông Chu – Bản Chiềng, Pu Sam Cap, Chợ Đồn, có tuổi tuyệt đối tƣơng ứng với Mesozoi muộn – Cenozoi. Hầu hết các đá magma loạt Fansipan đƣợc định vị trong các đới cấu trúc – tƣớng đá Fansipan, Sông Hồng, Sông Đà, Võng Tú Lệ, Phu Hoạt và sông Lô. Các công tác đo vẽ địa chất cho từng tờ riêng lẻ tỷ lệ 1/200.000 ở vùng Tây Bắc đƣợc thực hiện kế tiếp theo sự chủ biên của các nhà địa chất Nguyễn Xuân Bao (1969), Bùi Phú Mỹ (1971), Nguyễn Vĩnh (1972)… đã có nhiều thành công trong việc phân chia chi tiết về địa tầng, magma, biến chất. Các nghiên cứu chuyên sâu về đá magma đƣợc Nguyễn Văn Chiển, Lê Đình Hữu, Phan Viết Kỷ, Nguyễn Xuân Tùng (1972) thực hiện và phân chia theo các phức hệ.
Trong thời kỳ này có một số bài báo đề cập đến các thành tạo đá kiềm ở miền Bắc Việt Nam của Lê Đình Hữu và nnk (1963), Bùi Phú Mỹ (1972), Nguyễn Xuân Tùng (1972), Nguyễn Đức Hân (1973)…. Thời kỳ năm 1975 đến nay. Sau ngày đất nƣớc ta hoàn toàn thống nhất công tác nghiên cứu địa chất nói chung và magma nói riêng đƣợc đẩy mạnh và đã đạt đƣợc nhiều thành quả rực rỡ. Trong thời kỳ này, công trình đầu tiên nghiên cứu tổng hợp khá chi tiết và hệ thống về địa chất khu vực TBVN là “Những vấn đề địa chất Tây Bắc Việt Nam” do Phan Cự Tiến chủ biên năm 1977.
Mặc dù chƣa hoàn chỉnh nhƣ một chuyên khảo nhƣng với nội dung phong phú và nhiều số liệu cũng nhƣ luận giải giàu tính thuyết phục đã làm cho hình ảnh địa chất Tây Bắc sáng tỏ và ngày càng hấp dẫn. Trần Văn Trị và nnk (1977), trong công trình “Địa chất Việt Nam phần miền Bắc” đã phân chia vùng Tây Bắc Việt Nam thành các đơn vị cấu trúc nhƣ đới phức nếp 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lồi sông Hồng, máng chồng Tú Lệ, võng Sông Đà, phức nếp lồi Sông Mã và hoạt động magma xâm nhập theo các thời kỳ và giai đoạn tƣơng ứng với các đới cấu trúc mà chúng định vị. Bản chất phức tạp của địa chất Tây Bắc đã đƣợc nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về địa tầng, magma, kiến tạo, sinh khoáng làm sáng tỏ hơn thêm nhƣ công trình của Vũ Khúc, Bùi Phú Mỹ (1985), Trần Đức Lƣơng (1975 – 1977), Nguyễn Xuân Tùng và nnk (1977, 1982, 1986), Nguyễn Nghiêm Minh và Vũ Ngọc Hải (1987), Nguyễn Xuân Tùng, Trần Văn Trị và nnk (1992)…. Trong thời gian này công tác đo vẽ bản đồ địa chất và tìm kiếm khoáng sản tỷ lệ 1/50.000 đƣợc triển khai và đặc biệt ở TBVN những diện tích có triển vọng về khoáng sản và phức tạp về địa chất đều đƣợc ƣu tiên triển khai, ví dụ các nhóm tờ Thanh Sơn – Thanh Thủy (Nguyễn Đình Hợp, 1989), nhóm tờ Thuận Châu (Lê Văn Đệ - Nguyễn Đình Hợp, 1994), nhóm tờ Hòa Bình – suối Rút (Nguyễn Công Lƣợng, 1994)….
Từ những đo vẽ bản đồ địa chất tỷ lệ lớn và nghiên cứu thạch học cấu trúc chi tiết đã xác lập đƣợc nhiều phức hệ magma kiềm mới nhƣ phứ hệ Phong Thổ (Tô Văn Thụ, Bùi Minh Tâm, 1996), phức hệ Dƣơng Quỳ (Nguyễn Trung Chí, Nguyễn Đình Hợp, 1997)… Các thành tạo komatit, carbonatit cũng đƣợc xác lập từ những công trình nghiên cứu trong thời kỳ này. Nhiều bài báo, báo cáo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành các tuyển tập công trình hội nghị địa chất, hội thảo khoa học trong và ngoài nƣớc đã đề cập nhiều đến địa chất và khoáng sản Tây Bắc trong thời gian này nhƣ Phan Trƣờng Thị (1975 – 1997), Trần Phú Thành (1978), Lê Thạc Xinh (1978 – 1984), Đào Đình Thục (1981 – 1985)…. Điều đáng chú ý là trong các công trình nghiên cứu địa chất từ năm 1975 đến nay, các quan điểm động của học thuyết kiến tạo toàn cầu mới đã bắt đầu từng bƣớc đƣợc vận dụng và phát triển ở nƣớc ta. Đó là những công trình của Lê Thạc Xinh và nnk (1975, 1984), Lê Duy Bách (1986, 1987, 1996), Phan Văn Quýnh (1980), Lê Nhƣ 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.đã mang lại những đóng góp hết sức quan trọng trong luận giải lịch sử tiến hóa địa chất Việt Nam nói chung và TBVN nói riêng, tạo nên một bƣớc ngoặt lớn làm thúc đẩy công tác nghiên cứu địa chất và sinh khoáng khu vực theo hƣớng định lƣợng hóa, hiện đại hóa.
16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2: Sơ đồ những đơn vị cấu trúc chủ yếu liên quan các thành tạo granitoid vùng Tây Bắc Việt Nam. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đặc điểm các cấu trúc địa chất. Các thành tạo magma ở Tây Bắc Việt Nam đƣợc định vị trong một số cấu trúc địa chất và liên quan tới những bối cảnh địa động lực nhất định trong một số giai đoạn của lịch sử phát triển địa chất khu vực.
Đới cấu trúc Fansipan. Fansipan là đỉnh núi cao nhất Việt Nam (3143m), là một trong các đỉnh của dãy Hoàng Liên Sơn kéo dài theo phƣơng Tây Bắc – Đông Nam, bên hữu ngạn sông Hồng, qua các tỉnh Lai Châu, Lào Cai và Yên Bái.