Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Các hợp chất phenolic thực vật 1.1 Giới thiệu về các hợp chất phenolic thực vật [6] Các hợp chất phenolic là các hợp chất có một hoặc nhiều vòng thơm với một hoặc nhiều nhóm hydroxy. Chúng được phân bố rộng rãi trong giới thực vật và là các sản phẩm trao đổi chất phong phú của thực vật.000 cấu trúc phenolic đã được tìm thấy, từ các phân tử đơn giản như các axit phenolic đến các chất polyme như tannin. Các hợp chất phenolic thực vật có tác dụng chống lại bức xạ tia cực tím hoặc ngăn chặn các tác nhân gây bệnh, ký sinh trùng và động vật ăn thịt, cũng như làm tăng các màu sắc của thực vật. Chúng có ở khắp các bộ phận của cây và vì vậy, chúng cũng là một phần không thể thiếu trong chế độ ăn uống của con người.
Các hợp chất phenolic là thành phần phổ biến của thức ăn thực vật (trái cây, rau, ngũ cốc, ô liu, các loại đậu, sô-cô-la, vv) và đồ uống (trà, cà phê, bia, rượu, vv), và góp phần tạo nên các đặc tính cảm quan chung của thức ăn thực vật. Ví dụ, các hợp chất phenolic làm tăng vị đắng, sự se của trái cây và nước trái cây, bởi vì sự tương tác giữa các hợp chất phenolic, chủ yếu là các procyanidin và glycoprotein trong nước bọt. Các anthocyanin, một trong sáu phân nhóm của một nhóm polyphenol thực vật lớn được gọi là các flavonoid, tạo màu da cam, đỏ, xanh và màu tím của nhiều loại trái cây và rau quả như táo, quả, củ cải và hành tây. Các hợp chất phenolic được biết đến như là những hợp chất quan trọng nhất ảnh hưởng đến hương vị và sự khác biệt màu sắc giữa các loại rượu vang trắng, hồng và đỏ, các hợp chất này phản ứng với oxy và có ảnh hưởng đến việc bảo quản, lên men và cất giữu rượu vang.2 Phân loại các hợp chất phenolic [6, 10] 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Thị Quỳnh Hoa Luận văn thạc sĩ khoa học Các hợp chất phenolic có cấu trúc rất đa dạng và có thể được chia thành 10 nhóm chính được đưa ra trong Bảng 1.1: Phân loại các hợp chất phenolic thiên nhiên Số nguyên Nguồn gốc Nhóm Cấu trúc cơ bản tử cacbon thực vật C6 Phenol đơn giản OH Benzoquinon O O C6-C1 Axit benzoic Cranberry, COOH ngũ cốc CH3 Táo, mơ, C6-C2 Acetophenon O chuối, súp lơ Axit phenylaxetic COOH C6-C3 Axit cinnamic COOH Cà rốt, cam, quýt,cà chua, rau bina, đào, ngũ cốc, CH2 lê, cà tím Phenylpropen Cà rốt, cần tây, cam chanh, rau mùi tây O O Coumarin 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Thị Quỳnh Hoa Luận văn thạc sĩ khoa học Số nguyên Nhóm Cấu trúc cơ bản Nguồn gốc tử Cacbon thực vật O C6-C3 Chromon O O C6-C4 Naphthoquinon Các loại hạt O C6-C1-C6 Xanthon O Xoài, măng cụt O C6-C2-C6 Stilben Nho O Anthraquinon O C6-C3-C6 Flavonoid Phân bố rộng O (C6-C3)2 Lignan, Neolignan Mè, lúa mạch đen, lúa mì, lanh 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Thị Quỳnh Hoa Luận văn thạc sĩ khoa học Số nguyên Nhóm Cấu trúc cơ bản Nguồn gốc tử Cacbon thực vật (C6-C1)n Tannin thủy phân Polyme không đồng nhất được Lựu, quả tạo thành từ các axit phenolic mâm xôi và đường đơn (C6-C3)n Lignin Các polime thơm liên kết Các hợp chất phenolic thực vật bao gồm các stilben, các lignan (Hình 1.1), các axit phenolic, các flavonoid và các tannin (Hình 1.1: Cấu trúc minh họa của stilben và lignan 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Thị Quỳnh Hoa Luận văn thạc sĩ khoa học H×nh 1.2: Cấu trúc minh häa của flavonoid, axit phenolic và tannin 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Thị Quỳnh Hoa Luận văn thạc sĩ khoa học Các flavonoid là các polyphenol có nhiều nhất trong thức ăn của chúng ta.
Một cấu trúc flavonoid cơ bản là nhân flavan, chứa 15 nguyên tử cacbon được sắp xếp theo ba vòng (C6-C3-C6), được kí hiệu là A, B và C. Các flavonoid được chia thành sáu phân nhóm: flavon, flavonol, flavanol, falavanon, isoflavon và anthocyanin theo trạng thái oxy hóa của vòng C trung tâm. Sự thay đổi cấu trúc của chúng trong mỗi nhóm một phần là do mức độ và mô hình hydroxyl hóa, methoxyl hóa, prenyl hóa, hoặc glycosyl hóa. Một số chất flavonoid phổ biến nhất bao gồm quercetin, một flavonol có rất nhiều trong hành tây, bông cải xanh, táo; catechin, một flavonol được tìm thấy trong trà và một số loại trái cây; naringenin, một flavonol có trong quả bưởi; các cyaniding glycoside, anthocyanin có nhiều trong các loại trái cây mọng (nho đen, mâm xôi, blackberry, …) và daidzein, genistein và glycitein, các isoflavon trong đậu tương.
Các axit phenolic có thể được chia thành hai nhóm: nhóm các dẫn xuất của axit benzoic chẳng hạn như axit gallic và nhóm các dẫn xuất của axit cinnamic như axit coumaric, axit caffeic và axit ferulic. Axit caffeic là một axit phenolic phổ biến nhất, chứa trong nhiều loại trái cây và rau quả, thường được este hóa với axit quinic trong axit chlorogenic, là một hợp chất phenolic chủ yếu trong cà phê. Một axit phenolic phổ biến khác là axit ferulic, đó là chất có trong ngũ cốc và được este hóa tạo thành các hemicelluose có trong thành tế bào. Các tannin là một nhóm lớn các polyphenol trong khẩu phần ăn của chúng ta và thường được chia thành hai nhóm: nhóm các tannin thủy phân và nhóm các tannin ngưng tụ.
Các tannin thủy phân là các hợp chất có chứa nhân của glucose hoặc polyol khác, được este hóa với axit galic tạo thành các gallotannin, hoặc với axit hexahydroxydiphenic tạo thành các gellagitannin. Sự đa dạng trong cấu trúc của các hợp chất này là do khả năng hình thành các liên kết oxy. Phản ứng oxy hóa giữa các phân tử tạo thành nhiều hợp chất oligomeric có khối lượng phân tử khoảng 2. Các tannin ngưng tụ là các oligome hoặc polymer của flavan-3-ol liên kết 35 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Thị Quỳnh Hoa Luận văn thạc sĩ khoa học với nhau bằng một liên kết cacbon giữa các flavan.
Chúng cũng được coi là các proanthocyanidin bởi vì chúng bị phân hủy thành các anthocyanidin thông qua phản ứng oxy hóa, trong điều kiện xúc tác axit, nhiệt độ với các dung dịch rượu. Sự đa dạng cấu trúc các tannin là một kết quả của sự biến đổi trong mô hình thủy phân, lập thể tại ba trung tâm lập thể, vị trí và loại liên kết giữa các flavan, cũng như mức độ và mô hình của sự glycosyl hóa, methoxyl hóa và galloyl hóa.3 Hoạt tính sinh học của các hợp chất phenolic Do sự phân bố rộng rãi, các polyphenol có vai trò đối với sức khỏe của con người nên chế độ ăn uống dinh dưỡng được chú ý trong những năm gần đây. Các nhà nghiên cứu và các nhà sản xuất thực phẩm đã tập trung vào các polyphenol có đặc tính chống oxy hóa mạnh trong chế độ ăn uống, các hiệu ứng đáng tin cậy của chúng trong việc phòng ngừa những chứng bệnh căng thẳng oxy hóa liên quan.Theo các nghiên cứu dịch tễ học, hấp thụ các hợp chất phenolic sẽ giảm được nguy cơ mắc các bệnh tim mạch ngăn ngừa được bệnh ung thư. Hơn nữa các polyphenol còn có các tác dụng sinh lý học cụ thể trong việc ngăn ngừa và điều trị bệnh [6].
Các catechin được tìm thấy nhiều trong hạt nho, trà, ca cao, có tác dụng chống oxy hóa và có hiệu quả ngăn ngừa ung thư [30]. Các tannin có nhiều trong rượu vang đỏ, trà và các loại hạt làm phát huy các tác dụng sinh lý, chúng có thể làm giảm áp lực máu, thúc đẩy đông máu, giảm nồng độ lipit trong huyết thanh, điều chỉnh sự đáp ứng miễn dịch và ngăn ngừa hoại tử gan [10, 30]. Các isoflavon, genistein và daidzein (được tìm thấy trong đậu nành và có ảnh hưởng tốt đến xương ở phụ nữ mãn kinh, cùng với một số tác dụng nội tiết tốt [30]. Các procyanidin có nồng độ cao trong rượu vang đỏ, nho và hạt nho, ca cao, nam việt quất, táo, có tác dụng chống viêm và có ảnh hưởng rất tốt đến hệ thống mạch máu.
Chất này cũng được sử dụng làm chất phụ gia thực phẩm để ngăn chặn quá trình oxy hóa của các thành phần trong thực phẩm [30]. 35 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Thị Quỳnh Hoa Luận văn thạc sĩ khoa học Một stilben, resveratrol là một polyphenol đặc biệt, có tiềm năng chống ung thư và chống lão hóa [30].4 Phƣơng pháp chiết và phân lập các hợp chất phenolic 1.1 Phƣơng pháp chiết Chiết là một trong những bước quan trọng nhất trong tiền xử lý mẫu nghiên cứu, là các quy trình được sử dụng nhiều nhất do sự dễ sử dụng, hiệu quả và khả năng áp dụng rộng [8]. Nói chung, hiệu suất chiết phụ thuộc vào dạng dung môi với các độ phân cực khác nhau, thời gian chiết và nhiệt độ, tỷ lệ mẫu và dung môi cũng như thành phần hóa học và các đặc tính vật lý của các mẫu. Độ tan của các phenolic được quyết định bởi bản chất hóa học của mẫu thực vật, cũng như độ phân cực của các dung môi được sử dụng.
Các nguyên liệu thực vật có thể chứa các hợp chất phenolic từ các hợp chất đơn giản (ví dụ: các axit phenolic, các anthocyanin) đến các chất được polymer hóa cao (ví dụ: các tannin ở các lượng khác nhau). Hơn thế nữa các hợp chất phenolic cũng có thể liên kết với các thành phần thực vật khác như cacbohydrat và các protein. Do đó phụ thuộc vào hệ dung môi được sử dụng trong khi chiết, một hỗn hợp các hợp chất phenolic tan trong dung môi sẽ được chiết khỏi nguyên liệu thực vật. Hỗn hợp này có thể chứa các chất phi phenolic như: đường, các tecpen, các chlorophyll, các axit hữu cơ và các chất béo [11, 25].1 Chiết bằng dung môi Các phương pháp chiết các hợp chất phenolic đơn giản (axit benzoic, andehit bezoic, axit cinnamic và catechin) từ các nguyên liệu rắn chủ yếu được ngâm chiết với các dung môi hữu cơ.
Hiệu suất chiết phụ thuộc vào dạng dung môi với các độ phân cực khác nhau, thời gian chiết và các đặc trưng vật lý của mẫu chiết. Ánh sáng, không khí và nhiệt độ là các yếu tố thúc đẩy các phản ứng thoái biến. 35 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Thị Quỳnh Hoa Luận văn thạc sĩ khoa học Các dung môi như: etanol, metanol, propanol, aceton, etyl acetat, và sự kết hợp của các dung môi này với tỷ lệ khác nhau của nước cũng được sử dụng để chiết các hợp chất phenolic. Nói chung, chiết dung môi được sử dụng ở độ phòng để tránh sự thoái biến của các hợp chất phenolic; nhiều nghiên cứu sử dụng nhiệt độ khoảng 20- 40oC.
Các hợp chất phenolic bị thủy phân ở nhiệt độ 80-95ºC (sự thủy phân axit) hoặc 45ºC (sự thủy phân bazơ).