Phân lập gen Cystatin 10 liên quan khả năng kháng mọt của giống ngô

Phân lập gen cystatin 10 từ ngô, nghiên cứu khả năng kháng mọt. Tìm hiểu về ứng dụng của gen này trong chọn tạo giống ngô kháng sâu mọt hiệu quả.

Chuyên ngành

Công nghệ sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

63
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN

MỞ ĐẦU

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.2. Nội dung nghiên cứu

1. CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÂY NGÔ

1.1.1. Nguồn gốc và phân loại cây ngô

1.1.2. Đ c điểm sinh học của cây ngô

1.1.3. Đ c điểm hóa sinh hạt ngô

1.1.4. Giá trị kinh tế

1.1.5. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới

1.1.6. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam

1.2. MỌT NGÔ VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA MỌT NGÔ ĐẾN QUÁ TRÌNH BẢO QUẢN NÔNG SẢN

1.2.1. Đ c điểm của mọt hại ngô (Sitophilus zeamais Motschulsky)

1.2.2. Côn trùng hại ngô trong quá trình bảo quản nông sản

1.3. CYSTEINE PROTEINASE VÀ CYSTATIN

1.3.1. Cystatin - chất ức chế Cysteine proteinase

2. CHƢƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. HÓA CHẤT, THIẾT BỊ VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

2.1.1. Địa điểm nghiên cứu

2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Phƣơng pháp sinh lí

2.2.2. Phƣơng pháp sinh học phân tử

2.2.3. Phƣơng pháp xác định trình tự nucleotide

2.2.4. Phƣơng pháp xử lí trình tự gen

2.2.5. Phƣơng pháp xử lý kết quả và tính toán số liệu

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG KHÁNG MỌT CỦA CÁC GIỐNG NGÔ BẰNG NHIỄM MỌT NHÂN TẠO

3.2. KẾT QUẢ PHÂN LẬP GEN CYSTATIN 10

3.2.1. Kết quả tách chiết RNA tổng số

3.2.2. Kết quả tổng hợp cDNA và nhân gen

3.2.3. Kết quả tinh sạch sản phẩm PCR

3.2.4. Kết quả tách dòng gen

3.2.5. Kết quả tách plasmid tái tổ hợp

3.3. KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH VÀ PHÂN TÍCH TRÌNH TỰ GEN

3.3.1. Kết quả so sánh trình tự gen Cystatin 10 của hai mẫu ngô BG và HG

3.3.2. Kết quả so sánh hai trình tự nghiên cứu (BG, HG) với hai trình tự đã đƣợc công bố (CB2, MX4) và BN000514 trên GenBank

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phân Lập Gen Kháng Mọt Ngô Cystatin 10

Cây ngô (Zea mays L.) là một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới. Hạt ngô chứa khá đầy đủ các chất dinh dưỡng cho người và gia súc. Ở Việt Nam, ngô là cây lương thực quan trọng thứ hai sau lúa gạo. Trong những năm gần đây, sản xuất ngô ở Việt Nam tăng nhanh nhờ sự thúc đẩy của ngành chăn nuôi và công nghiệp chế biến. Ngô là cây thức ăn chăn nuôi quan trọng nhất hiện nay, 70% chất tinh trong thức ăn tổng hợp của gia súc là từ ngô. Gần đây, cây ngô còn là cây thực phẩm; người ta dùng bắp ngô bao tử làm rau cao cấp vì nó sạch và có hàm lượng dinh dưỡng cao; ngô nếp, ngô đường (ngô ngọt) được dùng làm quà ăn tươi (luộc, nướng) hoặc đóng hộp làm thực phẩm xuất khẩu. Ngô còn là nguyên liệu của ngành công nghiệp lương thực, thực phẩm và công nghiệp nhẹ để sản xuất rượu, cồn, tinh bột, dầu, glucôzơ, bánh kẹo. Trong y dược, ngô được dùng để trị áp huyết, râu ngô được dùng để làm thuốc. Hiện nay, diện tích ngô ngày càng được mở rộng và có sự phát triển tiến bộ trong công tác chọn tạo giống cây trồng nhằm tạo ra những giống ngô có năng suất cao, có khả năng kháng sâu bệnh hại, chống chịu hạn tốt. Tùy theo mục đích sử dụng mà sản phẩm ngô phải được bảo quản trong điều kiện khác nhau và thời gian bảo quản khác nhau. Trong quá trình bảo quản sản phẩm ngô theo thời gian có rất nhiều loại côn trùng phá hoại làm giảm phẩm chất, chất dinh dưỡng nông sản. Thành phần sâu mọt hại ngô tương đối đa dạng xuất hiện trong kho bảo quản ngô như mọt gạo, mọt răng cưa, mọt đục thân, mọt thóc. Vì vậy, việc nghiên cứu chọn tạo ra giống ngô có năng suất cao và khả năng kháng mọt tốt là yêu cầu thực tiễn đặt ra cho ngành trồng trọt nói chung và ngành chọn giống ngô nói riêng. Cystatin là một dạng protein ức chế protease, hoạt động của cysteine proteinase. Chúng có mặt trong vi sinh vật, động vật và thực vật. Các nghiên cứu gần đây bàn luận nhiều về mối liên quan giữa cystatin tới tính chống chịu yếu tố bất lợi của ngoại cảnh như: hạn, lạnh, muối, sự già và bảo vệ thực vật chống lại côn trùng, vi sinh vật gây bệnh và đặc biệt là khả năng kháng mọt.

1.1. Tổng quan về cây ngô và tầm quan trọng kinh tế

Cây ngô (Zea mays L.) đóng vai trò then chốt trong an ninh lương thực và phát triển kinh tế. Không chỉ là nguồn lương thực quan trọng thứ hai sau lúa gạo tại Việt Nam, ngô còn là thành phần không thể thiếu trong thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp chế biến. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hường (2015), việc mở rộng diện tích và cải tiến giống ngô là yếu tố then chốt để nâng cao năng suất và khả năng chống chịu sâu bệnh, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường.

1.2. Ảnh hưởng của mọt ngô đến quá trình bảo quản nông sản

Trong quá trình bảo quản, mọt ngô (Sitophilus zeamais) gây ra những thiệt hại đáng kể cho sản lượng ngô, làm giảm chất lượng và giá trị dinh dưỡng. Việc phòng trừ mọt ngô trở thành một bài toán cấp thiết để đảm bảo nguồn cung ổn định và giảm thiểu tổn thất kinh tế. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hường (2015) nhấn mạnh rằng việc chọn tạo giống ngô có khả năng kháng mọt là một giải pháp hiệu quả và bền vững để giải quyết vấn đề này.

1.3. Vai trò của Cystatin 10 trong khả năng kháng mọt ở ngô

Cystatin 10 là một protein ức chế cysteine proteinase, enzyme tiêu hóa của mọt ngô. Bằng cách ức chế enzyme này, cystatin 10 làm cản trở quá trình tiêu hóa của mọt, từ đó làm giảm khả năng sinh trưởng và phát triển của chúng. Theo Nguyễn Thị Hường (2015), việc phân lập và nghiên cứu gen cystatin 10 là cơ sở quan trọng để tạo ra các giống ngô biến đổi gen có khả năng kháng mọt hiệu quả.

II. Thách Thức Thiệt Hại Do Mọt Ngô Gây Ra và Giải Pháp Công nghệ sinh học

Mọt ngô (Sitophilus zeamais) gây hại trên bắp và hạt ngô ngay giai đoạn ngô chín sáp ngoài đồng, chúng theo ngô vào kho và gây hại liên tục trong suốt quá trình bảo quản. Trong kho mọt hoạt động nhanh nhẹn, hay bay bò và có tính giả chết, chúng thích bò lên các vị trí cao trong đống hạt. Khi gặp điều kiện độ nhiệt cao, mọt thường tập trung vào k kho, mép bao… để ẩn nấp. Do đó, trong những năm gần đây đã có rất nhiều nhà khoa học đã và đang nghiên cứu các gen, nhóm gen có liên quan đến khả năng chống lại sâu mọt, nhằm hạn chế những tổn thất do chúng gây ra trong quá trình bảo quản, và tạo ra những giống có khả năng kháng mọt và thích nghi với những điều kiện ngoại cảnh bất lợi, để đem lại hiệu quả cao nhất.

2.1. Đánh giá thiệt hại kinh tế do mọt ngô gây ra

Mọt ngô không chỉ gây thiệt hại trực tiếp đến sản lượng ngô mà còn làm giảm chất lượng và giá trị thương phẩm của sản phẩm. Theo các nghiên cứu, tổn thất sau thu hoạch do mọt ngô có thể lên tới 15-30%, gây ảnh hưởng lớn đến thu nhập của người nông dân và an ninh lương thực quốc gia.

2.2. Các biện pháp phòng trừ mọt ngô truyền thống và hạn chế của chúng

Các biện pháp phòng trừ mọt ngô truyền thống như sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phơi sấy, và bảo quản kín có những hạn chế nhất định về hiệu quả, chi phí và tác động đến môi trường. Việc tìm kiếm các giải pháp phòng trừ mọt ngô bền vững và thân thiện với môi trường là một yêu cầu cấp thiết.

2.3. Ứng dụng công nghệ sinh học trong phòng trừ mọt ngô Hướng đi tiềm năng

Công nghệ sinh học mở ra những hướng đi mới trong phòng trừ mọt ngô, bao gồm việc tạo ra các giống ngô kháng mọt bằng kỹ thuật biến đổi gen, sử dụng các chế phẩm sinh học từ vi sinh vật, và phát triển các phương pháp phòng trừ sinh học dựa trên cơ chế sinh học tự nhiên.

III. Phương Pháp Phân Lập Gen Cystatin 10 Hướng Dẫn Chi Tiết

Nghiền mẫu bằng nitơ lỏng (100 mg lá ngô non). Bột đã nghiền cho vào ống eppendorf 2 ml. Bổ sung 1ml Trizol để 3 phút ủ đá. Bổ sung 0,2 ml Chloroform vào ống, lắc mạnh trong 15 giây, để 3 phút ủ đá. Ly tâm 8000 vòng/phút trong 15 phút ở 4oC. Hút 400 µl chuyển sang ống Eppendorf 1,5 ml. Bổ sung 0,5 ml isopropanol, ủ ở - 20oC trong 30 phút. Ly tâm 12000 vòng/ phút trong 15 phút ở 4oC, thu tủa. Rửa tủa với cồn 70% DEPC. Ly tâm 12000 vòng/ phút trong vòng 10 phút. Sấy khô mẫu. Bổ sung 30 µl DEPC – H2O. Sử dụng 1µl để định lƣợng RNA tổng số bằng máy Nano drop.

3.1. Quy trình tách chiết RNA tổng số từ lá ngô

Việc tách chiết RNA tổng số là bước quan trọng để thu được nguồn RNA tinh khiết, làm khuôn cho quá trình tổng hợp cDNA. Quy trình này bao gồm các bước nghiền mẫu, ly giải tế bào, tách RNA bằng chloroform và isopropanol, rửa tủa, và hòa tan RNA trong DEPC-H2O.

3.2. Phương pháp tổng hợp cDNA từ RNA tổng số

cDNA là bản sao DNA của RNA, được sử dụng làm khuôn cho phản ứng PCR để nhân gen cystatin 10. Quá trình tổng hợp cDNA sử dụng enzyme phiên mã ngược để chuyển RNA thành DNA.

3.3. Kỹ thuật PCR và thiết kế mồi đặc hiệu cho gen Cystatin 10

Phản ứng PCR (Polymerase Chain Reaction) là kỹ thuật nhân bản DNA được sử dụng để khuếch đại gen cystatin 10 từ cDNA. Để đảm bảo tính đặc hiệu của phản ứng, cần thiết kế các cặp mồi đặc hiệu dựa trên trình tự gen cystatin 10 đã biết.

IV. Ứng Dụng PCR và Phân Tích Trình Tự Gen Kháng Mọt Ngô

Sau khi tổng hợp xong cDNA, tiến hành khuếch đại sản phẩm gen phục vụ cho bƣớc gắn gen vào vector tách dòng pBT theo phƣơng pháp của Sambrook và cs (2001). Chúng tôi sử dụng c p mồi đ c hiệu dùng cho phản ứng gồm mồi xuôi và mồi ngƣợc có trình tự nhƣ sau:CGT CGA CGA TGG CTC GTG GGC TCG GCG CTT 580CCAA GCT TGT TAC TTG GCG GCC GCC GGC GCG 580C Thực hiện phản ứng PCR nhân gen Cystatin 10 với chu trình nhiệt: 35 chu kỳ Thành phần phản ứng RT-PCR nhân gen Cystatin10 ở ngô đƣợc trình bày ở bảng 2. Sau khi thu đƣợc sản phẩm nhân gen, chúng tôi tiến hành kiểm trên gel agarose 1%, nhuộm bản gel trong ethidium bromide. Sau đó chụp ảnh dƣới ánh sáng của đèn cực tím.

4.1. Tối ưu hóa điều kiện PCR cho việc nhân bản gen Cystatin 10

Để đảm bảo hiệu quả nhân bản gen, cần tối ưu hóa các điều kiện PCR như nhiệt độ gắn mồi, nồng độ MgCl2, và thời gian kéo dài chuỗi. Điều này giúp giảm thiểu các sản phẩm phụ không mong muốn và tăng độ đặc hiệu của phản ứng.

4.2. Phương pháp làm sạch sản phẩm PCR và kiểm tra chất lượng DNA

Sau khi nhân bản, sản phẩm PCR cần được làm sạch để loại bỏ các tạp chất như enzyme, mồi thừa, và nucleotide tự do. Việc kiểm tra chất lượng DNA bằng điện di gel agarose giúp xác định kích thước và độ tinh khiết của sản phẩm.

4.3. Phân tích trình tự gen Cystatin 10 và so sánh giữa các giống ngô

Phân tích trình tự gen cystatin 10 giúp xác định trình tự nucleotide của gen và so sánh sự khác biệt giữa các giống ngô khác nhau. Thông tin này có thể giúp xác định các đột biến hoặc đa hình liên quan đến khả năng kháng mọt.

V. Kết Quả Nghiên Cứu và Phân Tích Khả Năng Kháng Mọt của Ngô

Sau 10 – 20 – 30 – 40 – 50 – 60 ngày, tất cả các giống ngô nghiên cứu đều bị mọt xâm hại, mức độ thức ăn hao hụt tăng theo thời gian: Sau 10 ngày, lƣơng ngô hao hụt trung bình ở các giống ngô nghiên cứu là 1,65 g; sau 20 ngày là 3,54 g; sau 30 ngày là 5,45 g; sau 40 ngày là 7,41 g; sau 50 ngày là 9,25 g, sau 60 ngày 11,20 g. Ở ngày thứ 60 trọng lƣợng hao hụt của giống ngô BG là cao nhất (21,51 g) và thấp nhất là giống ngô HG (4,14 g). Để kiểm tra xem lƣợng ngô hao hụt ở các mẫu thí nghiệm trên có thực sự khác nhau hay không, chúng tôi thực hiện phƣơng pháp so sánh nhiều mẫu độc lập theo tiêu chuẩn phi tham số của Kruskal và Wallis , kết quả tính đƣợc giá trị H = 17,16 > X5(0,005) = 16,75. Do đó có thể kết luận: Lƣợng thức ăn hao hụt ở các mẫu thí nghiệm thực sự khác nhau ở mức tin cậy 99,5%.

5.1. Đánh giá khả năng kháng mọt của các giống ngô khác nhau

Việc đánh giá khả năng kháng mọt của các giống ngô khác nhau được thực hiện bằng cách theo dõi lượng thức ăn hao hụt sau một thời gian nhất định. Các giống ngô có lượng thức ăn hao hụt ít hơn được coi là có khả năng kháng mọt tốt hơn.

5.2. Phân tích sự khác biệt về trình tự gen Cystatin 10 giữa các giống ngô kháng mọt

So sánh trình tự gen cystatin 10 giữa các giống ngô kháng mọt và không kháng mọt giúp xác định các vùng nucleotide hoặc amino acid có liên quan đến khả năng kháng mọt. Các vùng này có thể là mục tiêu cho việc cải thiện khả năng kháng mọt của ngô bằng kỹ thuật biến đổi gen.

5.3. Kết quả so sánh trình tự amino acid và mối liên hệ với kháng mọt

Trình tự amino acid của protein Cystatin 10 có ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng ức chế protease của nó. Do đó, sự khác biệt về trình tự amino acid giữa các giống ngô kháng mọt có thể giải thích sự khác biệt về khả năng kháng mọt.

VI. Kết Luận Triển Vọng và Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Phân lập gen

Sự sai khác về trình tự nucleotide và amino acid suy diễn ở trên là cơ sở để so sánh khả năng kháng mọt giữa hai giống ngô kháng mọt tốt nhất và kháng mọt kém nhằm tìm kiếm tính quy luật của sự thay đổi vị trí các nucleotide và amino acid liên quan đến tính kháng mọt của các giống ngô. Đây chính là tiền đề cơ sở cho việc nghiên cứu chọn tạo các giống ngô có khả năng kháng mọt tốt, năng suất cao, phục vụ sản xuất và đời sống.

6.1. Tóm tắt những kết quả chính của nghiên cứu về gen Cystatin 10

Nghiên cứu đã phân lập và phân tích trình tự gen cystatin 10 từ các giống ngô khác nhau, xác định sự khác biệt về trình tự nucleotide và amino acid giữa các giống, và đánh giá mối liên hệ giữa sự khác biệt này với khả năng kháng mọt.

6.2. Ứng dụng của kết quả nghiên cứu trong chọn tạo giống ngô kháng mọt

Thông tin về gen cystatin 10 có thể được sử dụng để chọn tạo giống ngô kháng mọt bằng kỹ thuật chọn giống phân tử (marker-assisted selection) hoặc bằng kỹ thuật biến đổi gen.

6.3. Đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo để nâng cao hiệu quả kháng mọt

Các hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc nghiên cứu cơ chế hoạt động của protein cystatin 10, xác định các yếu tố điều hòa biểu hiện gen, và phát triển các phương pháp phòng trừ mọt ngô dựa trên cơ chế sinh học tự nhiên.

22/09/2025
Phân lập gen cystatin 10 liên quan đến khả năng kháng mọt của một số giống ngô

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÂY NGÔ 1. Nguồn gốc và phân loại cây ngô Cây ngô có tên khoa học là Zea may L., thuộc chi Maydeae, họ hòa thảo (Gramineae), bộ hòa thảo (Graminales) [13]. Có nhiều giả thuyết khác nhau về nguồn gốc cây ngô dựa trên những kết quả nghiên cứu về khảo cổ học, di truyền học, thực vật học và địa lý học.

cho rằng quá trình thuần hóa ngô ban đầu diễn ra ở Mexico, sau đó việc gieo trồng lan rộng ra khu vực Bắc Mỹ. Ngô đƣợc đƣa tới châu Âu (Tây Ban Nha) lần đầu tiên vào năm 1494, là kết quả của chuyến thám hiểm lần thứ hai của Columbus. Đầu thế kỷ XVI, bằng đƣờng thủy với các tàu của Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý đã đƣa cây ngô đến hầu hết các nơi trên thế giới. Ở Việt Nam, cây ngô có nguồn gốc từ Trung Quốc, đƣợc trồng vào khoảng thế kỷ XVII (theo “Vân Đài loại ngữ” của Lê Quý Đôn).

Tuy nhiên, do là một nƣớc có truyền thống sản xuất lúa nƣớc nên trong thời gian đầu ngô ít đƣợc chú ý mà chỉ phát triển trong những năm gần đây. Ngô có nhiều cách phân loại khác nhau, có thể phân loại theo đ c điểm thực vật học, sinh thái học, nông học, thời gian sinh trƣởng và thƣơng phẩm. Phân loại theo đ c điểm thực vật học thì dựa vào hạt có mày hay không có mày, hình thái bên ngoài và cấu trúc nội nhũ của hạt, ngô đƣợc phân thành các loài phụ: ngô bọc, ngô đá, ngô răng ngựa, ngô đƣờng, ngô nổ, ngô bột, ngô nếp, ngô đƣờng bột, ngô bán răng ngựa. Từ các loài phụ căn cứ vào màu sắc hạt và màu sắc lõi ngô để phân thành các thứ [3].

Đặc điểm sinh học của cây ngô Ngô là thực vật một lá mầm có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau nhƣng thích hợp nhất là đất có thành phần cơ giới nhẹ độ màu mỡ cao, dễ thoát nƣớc, tầng canh tác dày, pH 6-7 [13]. Cây ngô gồm các bộ phận: rễ, thân, lá, hoa (bông cờ, bắp ngô) và hạt. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 4 Ngô có hệ rễ chùm tiêu biểu trong bộ rễ các cây họ Hòa thảo. Tùy theo vị trí, chức năng, nhiệm vụ và thời gian sinh trƣởng mà rễ hoàn chỉnh của cây đƣợc chia làm 3 loại: Rễ mầm, rễ đốt và rễ chân kiềng.

Rễ mầm (rễ tạm thời, rễ hạt) mọc từ trụ lá mầm, chức năng chính của rễ này là hút nƣớc, thức ăn khi cây còn non. Rễ đốt (rễ phụ cố định) phát triển từ các đốt thấp của thân, mọc vòng quanh các đốt dƣới m t đất bắt đầu lúc ngô đƣợc 3 - 4 lá. Đây là loại rễ quyết định quá trình sinh trƣởng phát triển của cây ngô, nó giúp cây hút nƣớc và các chất dinh dƣỡng suốt đời sống của cây. Rễ chân kiềng (rễ neo, rễ chống) mọc quanh các đốt thấp sát m t đất.

Rễ này giúp cây chống đỡ và bám ch t vào đất, ngoài ra còn tham gia hút nƣớc và dinh dƣỡng [6]. Thân ngô đ c, đƣờng kính từ 2 - 4 cm, cao từ 1,8 - 2 m. Thân ngô trƣởng thành bao gồm nhiều lóng nằm giữa các đốt và kết thúc bằng bông cờ. Thân ngô ngoài nhiệm vụ giúp cây đứng vững, là bộ phận dự trữ và vận chuyển chất hữu cơ, ngoài ra còn có khả năng quang hợp để tổng hợp chất hữu cơ [6].

Lá ngô mọc từ mắt trên đốt và mọc đối xứng xen k nhau. Căn cứ vào vị trí và hình thái lá trên cây, lá ngô đƣợc chia thành các nhóm: lá mầm, lá thân, lá ngọn, lá bi. Lá ngô điển hình đƣợc cấu tạo bao gồm các bộ phận: bẹ lá, phiến lá (bản lá), thìa lá (lƣỡi lá, tai lá). Lá ngô là cơ quan làm nhiệm vụ quang hợp, đồng thời làm nhiệm vụ trao đổi khí, hô hấp, dự trữ dinh dƣỡng… Số lƣợng lá, chiều dài, chiều rộng, độ dày, lông tơ, màu lá, góc lá và gân lá thay đổi tùy theo từng giống khác nhau.

Số lá là đ c điểm khá ổn định ở ngô, có quan hệ ch t với số đốt và thời gian sinh trƣởng. Những giống ngô ngắn ngày thƣờng có 15 - 16 lá, giống ngô trung bình có 18 - 20 lá, giống ngô dài ngày thƣờng có trên 20 lá [6]. Lá ngô là cơ quan làm nhiệm vụ quang hợp, đồng thời làm nhiệm vụ trao đổi khí, hô hấp, dự trữ dinh dƣỡng… Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 Ngô là loại cây có hoa khác tính cùng gốc. Cơ quan sinh sản đực và cái tuy cùng nằm trên một cây song ở những vị trí khác nhau.

Hoa đực nằm ở đỉnh cây, xếp theo chùm gồm một trục chính và nhiều nhánh, hoa cái mọc ở các nách lá ở giữa thân cây ngô, số mầm nách nhiều nhƣng chỉ có 1-3 mầm nách trên cùng phát triển thành bắp, số bắp trên cây phụ thuộc vào giống, điều kiện tự nhiên và mật độ gieo trồng, chế độ chăm sóc. Hạt ngô thuộc loại quả dĩnh gồm 5 phần chính: vỏ hạt, lớp alơrôn, phôi, nội nhũ và chân hạt. Vỏ hạt là một màng nhẵn bao xung quanh hạt. Lớp alơrôn nằm dƣới vỏ hạt bao lấy nội nhũ và phôi.

Nội nhũ là phần chính của hạt chứa các tế bào dự trữ dinh dƣỡng. Nội nhũ gồm hai phần nội nhũ bột và nội nhũ sừng. Tỷ lệ giữa nội nhũ bột và nội nhũ sừng tùy vào chủng ngô, giông ngô. Phôi ngô chiếm 1/3 thể tích hạt ngô, gồm có: ngù (phần ngăn cách giữa nội nhũ và phôi), lá mầm, trụ dƣới lá mầm, rễ mầm và chồi mầm.

Trong bốn phần này thì lá mầm thƣờng phát triển rõ rệt nhất. Màu sắc hạt phụ thuộc đ c tính di truyền của giống và chủng loại, vì vậy hạt ngô có nhiều màu sắc khác nhau nhƣ: trắng, vàng, tím, da cam, đỏ…Mỗi bắp ngô có từ 200 - 1000 hạt phụ thuộc vào giống, điều kiện ngoại cảnh, sinh thái, trung bình mỗi bắp có từ 500 - 600 hạt [2]. Quá trình sinh trƣởng, phát triển của cây ngô đƣợc chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn sinh dƣỡng là từ khi gieo đến khi xuất hiện nhị cái và giai đoạn sinh trƣởng thực bắt đầu từ khi hoa cái thụ tinh cho đến khi hạt chín hoàn toàn. Căn cứ đ c điểm sinh lý và thời gian sinh trƣởng có thể chia ra các thời kì sinh trƣởng phát triển quan trọng sau: Thời kì hạt nảy mầm và mọc, thời kì từ 3 lá đến 6 lá, thời kì từ 8 đến 10 lá, thời kì xoáy nõn, thời kì nở hoa và thời kì chín [5].

Trong từng giai đoạn cây ngô yêu cầu các điều kiện khác nhau và mỗi giai đoạn đều có ảnh hƣởng khác nhau đến các yếu tố tạo thành năng suất và chất lƣợng hạt ngô. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www. Đặc điểm hóa sinh hạt ngô Hạt ngô có giá trị dinh dƣỡng cao, chứa tƣơng đối đầy đủ các chất dinh dƣỡng cần thiết cho con ngƣời và gia súc. Bột ngô chiếm 65 - 83% khối lƣợng hạt, là nguyên liệu quan trọng trong công nghiệp chế biến bột.

Thành phần chủ yếu của hạt ngô gồm tinh bột và protein, ngoài ra còn có một số chất nhƣ đƣờng, cellulose, chất khoáng, sinh tố. Tỉ lệ các bộ phận hạt ngô và thành phần hóa học của chúng [11] Các bộ Thành phần hóa học (tính theo % chất khô) phận của Tỉ lệ (%) hạt ngô Tinh bột Protein Lipid Toàn hạt 100 71,5 0,3 4,8 Nội nhũ 82,3 86,4 9,4 0,8 Phôi 11,5 8,2 18,8 34,5 Vỏ 5,3 7,3 3,7 1,0 Mày 0,8 5,3 9,1 3,8 Thành phần chính trong hạt ngô là tinh bột (60 - 70%), chúng tập trung chủ yếu ở nội nhũ. Hàm lƣợng tinh bột ở ngô tẻ nhiều hơn ngô nếp (68% so với 65%) và đƣợc chia thành tinh bột mềm (tinh bột bột) và tinh bột cứng (tinh bột sừng). Ngô nếp đƣợc cấu tạo hoàn toàn từ amylopectin nên có độ dẻo hơn ngô tẻ [11].

Vitamin của ngô tập trung ở lớp ngoài hạt ngô và ở mầm. Ngô cũng có nhiều vitamin C, vitamin B (B1, B2, B6. Vitamin PP hơi thấp cộng với thiếu tryptophan một amino acid có thể tạo vitamin PP. Riêng ngô vàng chứa nhiều carotene (tiền vitamin A) [16].

Tỷ lệ chất béo trong hạt ngô tƣơng đối cao (3 - 6%), chủ yếu tập trung trong mầm ngô. Trong chất béo của ngô có 50% là acid linoleic, 31% là axít oleic, 13% là axít panmitic và 3% là stearic. Hàm lƣợng lipid là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lƣợng hạt [9]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.

Giá trị kinh tế Ngô là một trong những cây lƣơng thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu, 1/3 dân số trên thế giới dùng ngô làm lƣơng thực chủ yếu. Toàn thế giới sử dụng khoảng 21% sản lƣợng ngô làm lƣơng thực cho con ngƣời, các nƣớc ở Trung Mỹ, Nam Á và Châu Phi sử dụng ngô làm lƣơng thực chính, các nƣớc Đông Nam Phi sử dụng 85% sản lƣợng lƣơng thực cho ngƣời [13]. Ngô đƣợc sử dụng nhiều trong công nghiệp nhƣ chế biến thực phẩm, công nghiệp nhẹ. Các loại ngô nếp, ngô đƣờng đƣợc đóng hộp làm thực phẩm xuất khẩu.

Bột ngô đƣợc dùng để nấu cồn sản xuất đƣờng glucose, làm môi trƣờng nuôi cấy nấm penicillin, sản xuất acid acetic. Lõi ngô đƣợc chế biến làm chất cách điện, nhựa hóa học. Phôi ngô dùng để ép dầu, phục vụ trong công nghiệp thực phẩm, dƣợc phẩm. Ví dụ, nƣớc Mỹ hàng năm sử dụng 18% tổng sản lƣợng ngô để sản xuất tinh bột, 37% sản xuất cồn và 5,8% sản xuất bánh kẹo [18].

Ở nƣớc ta, ngô là cây lƣơng thực chính đứng hàng thứ hai sau lúa nƣớc, giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân nói chung và nền sản xuất nông nghiệp nói riêng, đ c biệt với đồng bào vùng cao miền núi thì cây ngô còn góp phần xóa đói giảm nghèo [6]. Hàng năm, nƣớc ta phải nhập khẩu một lƣợng lớn ngô từ các nƣớc nhƣ: Braxin, Achentina, Ấn Độ, Thái Lan, Camphuchia, Lào. Theo báo cáo thống kê tháng 9 năm 2015 của Trung tâm Tin học và Thống kê - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, lƣợng ngô nƣớc ta nhập khẩu từ tháng 9/2014 đến tháng 8/2015 là 4.903 tấn tƣơng đƣơng 963. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Ngô là một loại ngũ cốc quan trọng trên thế giới đứng thứ 3 sau lúa mì và lúa gạo, có địa bàn phân bố rộng, đƣợc gieo trồng rộng khắp trên thế giới với sản lƣợng hàng năm cao hơn bất kỳ cây lƣơng thực nào.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ