Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án 1.1 Khái niệm vàý nghĩa cuủa iệc phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án 1. Cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy định về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án 1.3 Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án qua các giai đoạn lịch sử 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương 2: Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án 2.1 Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa Tòa án các cấp 2.2 Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án cùng cấp Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án và kiến nghị 3. Thực tiễn thực hiện pháp luật về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án 3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án Kết luận 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÂN ĐỊNH THẨM QUYỀN SƠ THẨM DÂN SỰ GIỮA CÁC TÒA ÁN 1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án 1.
Khái niệm về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án Khái niệm thẩm quyền gắn liền với chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan trong bộ máy Nhà nƣớc. Vì thế để thực hiện những chức năng, nhiệm vụ này, nhà nƣớc trao cho các cơ quan những thẩm quyền riêng và có sự phân định rõ ràng về thẩm quyền giữa chúng. Tòa án là cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền xét xử các vụ án, vụ việc trong lĩnh vực hình sự, dân sự, hành chính….Trong lĩnh vực dân sự (theo nghĩa rộng), Tòa án có chức năng giải quyết các loại tranh chấp, yêu cầu trong lĩnh vực dân sự (theo nghĩa hẹp), lao động, kinh doanh thƣơng mại, hôn nhân gia đình. Việc quy định hợp lý về thẩm quyền dân sự của Tòa có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo quyền tiếp cận công lý của công dân, tạo điều kiện thuận lợi cho họ có thể thực hiện đƣợc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Để có thể hiểu rõ về việc phân định thẩm quyền dân sự giữa các Tòa án thì chúng ta cần làm rõ các khái niệm liên quan [47]. Thuật ngữ "thẩm quyền" bắt nguồn từ tiếng la tinh "competentia" có hai nghĩa là: thứ nhất là phạm vi các quyền hạn của cơ quan hoặc ngƣời có chức vụ nào đó; thứ hai là phạm vi những kiến thức và kinh nghiệm mà ai đó có [47]. Trong quan hệ điều hành và quản lý nhà nƣớc, thẩm quyền thông thƣờng đƣợc hiểu theo nghĩa đầu tiên. Lý luận pháp luật của các quốc gia trên thế giới đƣa ra nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này.
Trong tiếng Pháp, thẩm quyền “Compétence” đƣợc hiểu là quyền của cơ quan nhà nƣớc, hành chính hay tƣ pháp, quan chức hành chính hay tƣ pháp đƣợc làm một số việc, đƣợc quyết định và ra một số văn bản về một số vấn đề trong phạm vi đƣợc pháp luật cho phép [1]. Theo 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lenmeiunier, tác giả cuốn từ điển pháp luật của Pháp thì cho rằng thẩm quyền của Tòa án đƣợc hiểu là “khả năng của một Tòa án xem xét một vụ việc trong phạm vi pháp luật cho phép” [52, tr. Trong tiếng Anh, ngƣời ta dùng thuật ngữ “Jurisdistion” để chỉ thẩm quyền hoặc phán quyền - tức là quyền lắng nghe và phán quyết vụ kiện hay đƣa ra án lệnh nào đó của tòa án một vùng lãnh thổ mà trong phạm vi đó thẩm quyền của Tòa án (Jurisdistion of Court) đƣợc thi hành [1]. Theo Từ điển Luật học của Nhà xuất bản Từ điển bách khoa năm 1999 thì thẩm quyền là: “Tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống bộ máy Nhà nƣớc do luật pháp quy định nhƣ thẩm quyền của Tòa án các cấp, thẩm quyền của Viện kiểm sát các cấp, của cơ quan Công an các cấp… Hành động, quyết định trong phạm vi thẩm quyền do luật pháp quy định là điều kiện để đảm bảo trật tự pháp luật và pháp chế thống nhất, tránh đƣợc sự trùng lặp, lấn sân trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan các cấp, các ngành.
Vƣợt qua thẩm quyền, làm trái thẩm quyền trong ban hành các văn bản, quyết định là cơ sở pháp lý để hủy bỏ các văn bản ấy”[43, tr. Nhƣ vậy, dƣới những góc độ khác nhau thì khái niệm “thẩm quyền” đƣợc giải thích có đôi chút khác nhau. Tuy nhiên, có thể hiểu chung quy lại, thẩm quyền là thuật ngữ dùng để chỉ phạm vi, giới hạn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cá nhân hoặc cơ quan nhà nƣớc trong việc thực thi quyền lực nhà nƣớc đƣợc pháp luật quy định. Ở thuật ngữ này chứa đựng những thành tố nhất định nhƣ sau: thứ nhất đó là quyền hạn của cơ quan nhà nƣớc hoặc cá nhân để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình; và thứ hai là quyền hạn này đƣợc pháp luật thừa nhận và quy định chi tiết về nội dung và phạm vi; cá nhân hoặc cơ quan đó chỉ đƣợc thực hiện trong phạm vi pháp luật cho phép.
Đi vào nội dung cụ thể hơn về khái niệm thẩm quyền dân sự của Tòa án, thông thƣờng đƣợc hiểu là thẩm quyền xét xử lần đầu tiên đối với các vụ việc dân sự. Trong quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng), có thể phát sinh tranh chấp có nhu cầu cần giải quyết hoặc phát sinh yêu cầu cần đƣợc cơ quan có nhà nƣớc công nhận. Đối với ngƣời khởi kiện hoặc ngƣời yêu cầu, vấn đề đầu tiên và 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quan trọng nhất mà họ quan tâm và thắc mắc đó là cơ quan nào, chi tiết hơn là Tòa án cụ thể nào sẽ giải quyết vụ việc của mình. Do đó nhu cầu thông qua các quy định xác định rõ Tòa án có thẩm quyền xét xử lần đầu tiên là một điều tất yếu cho quá trình giải quyết vụ án.
Theo giáo trình tố tụng dân sự, Khoa Luật – ĐHQGHN, “Thẩm quyền dân sự của Tòa án là quyền xem xét giải quyết các vụ việc dân sự và quyền ra các quyết định khi giải quyết các vụ việc đó theo thủ tục tố tụng dân sự ở cấp sơ thẩm” [16,tr. Trên thế giới, thẩm quyền dân sự sơ thẩm đƣợc tiếp cận chủ yếu dƣới hai góc độ: thẩm quyền theo loại việc và thẩm quyền theo lãnh thổ. Thẩm quyền theo loại việc (hay còn đƣợc gọi là thẩm quyền chung) xác định những loại vụ việc cụ thể nào thuộc quyền xem xét, giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự sơ thẩm. Loại thẩm quyền này có đặc điểm là không xác định rõ Tòa án cụ thể nào sẽ giải quyết vụ việc mà tập trung phân định rõ những nội dung tranh chấp, yêu cầu thuộc thẩm quyền xem xét của hệ thống Tòa án nói chung.
Về kỹ thuật pháp lý, việc xác định thẩm quyền theo loại việc đƣợc xây dựng trên cơ sở phân loại pháp luật của mỗi quốc gia; luật công – luật tƣ; luật dân sự - luật hình sự. Ví dụ nhƣ ở các nƣớc thuộc hệ thống châu Âu lục địa có truyền thống phân loại pháp luật thành luật công và luật tƣ thì hệ thống và thẩm quyền theo vụ việc của các tòa án cũng đƣợc xác định tƣơng ứng với sự tồn tại của tác tòa án dân sự, tòa hành chính, tòa hình sự. Bên cạnh đó, pháp luật một số quốc gia dựa trên giá trị tranh chấp để phân loại các loại việc dân sự. Pháp luật tố tụng Pháp xác định Tòa án thẩm quyền hẹp (Tribunal de paix) có thẩm quyền xét xử các vụ án dân sự nhỏ, giá trị tranh chấp đến 30.
Tòa sơ thẩm thẩm quyền rộng (Tribunal de Grande Instance) có thẩm quyền xét xử các vụ kiện có giá trị tránh chấp lớn hơn 30. Ngoài ra, còn có các Tòa án dân sự chuyên trách giải quyết các vụ việc trong các lĩnh vực cụ thể bao gồm Tòa án thƣơng mại (Tribunal de Commerce), Tòa án lao động (Conseil prud hommes), và tòa xét xử hợp đồng nông nghiệp (Tribunal paritaire des baux ruraux). Pháp luật tố tụng của Đức cũng xác định Tòa án địa phƣơng (Amtsgericht) có thẩm quyền xét xử các tranh chấp có giá trị đến 5. Tòa án khu vực (Landgericht), 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có thẩm quyền xét xử dân sự đối với các vụ tranh chấp có giá ngạch từ 5.000 EUR trở lên [37, tr.
Tòa án Hoa Kỳ, do đặc trƣng bởi chính quyền liên bang (có tính liên kết không chặt chẽ) nên có hai hệ thống Tòa án độc lập là Tòa án liên bang và Tòa án bang. Hệ thống Tòa án bang thƣờng bao gồm Tòa sơ thẩm, Tòa phúc thẩm và Tòa án tối cao. Tòa sơ thẩm có thể bao gồm Tòa sơ thẩm địa phƣơng có thẩm quyền riêng và Tòa sơ thẩm bang có thẩm quyền chung. Hệ thống Tòa án Liên bang bao gồm các Tòa án quận (U.S district courts) là Tòa sơ thẩm với thẩm quyền chung và các Tòa án thẩm quyền riêng (ví dụ: Tòa án phá sản, Tòa án thuế), Tòa phúc thẩm và Tòa án tối cao Hoa Kỳ.
Phần lớn các vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết tranh chấp của các Tòa án bang. Tòa án Liên bang chỉ có thẩm quyền giải quyết các vụ việc sau: (1) Các vụ việc về Hiến pháp Liên bang, các hiệp định hoặc luật Liên bang. Ví dụ: các vụ việc phá sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Liên bang, các tranh chấp liên quan đến việc thực thi các luật chứng khoán Liên bang thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Liên bang; (2) Các vụ tranh chấp mà nguyên đơn và bị đơn ở các bang khác nhau và giá trị tranh chấp trên 75. Trong một số ít trƣờng hợp là tranh chấp giữa quốc gia nƣớc ngoài với công dân của một bang và tranh chấp giữa công dân của một bang với một thể nhân hoặc pháp nhân nƣớc ngoài.
217-218] Đối với pháp luật Anh, thẩm quyền sơ thẩm dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án địa phƣơng (Country Courts) và Tòa án cấp cao (High Courts). Thông thƣờng, Tòa án cấp cao chỉ xém xét các vụ việc quan trọng, phức tạp, giá trị lớn.