Chương 1 NỘI DUNG PHÂN ĐỊNH BIỂN THEO UNCLOS 1982 Sau khoảng 5 năm chuẩn bị và 9 năm đàm phán, ngày 10/12/1982, UNCLOS 1982 được 107 quốc gia, trong đó có Việt Nam, ký tại Montego Bay - Jamaica, đánh dấu thành công của Hội nghị Liên Hợp Quốc về Luật biển lần thứ 3, với sự tham gia của trên 150 quốc gia và nhiều tổ chức quốc tế, kể cả các tổ chức quốc tế phi chính phủ, cùng xây dựng nên một Công ước mới về Luật biển, được nhiều quốc gia, kể cả những quốc gia không có biển, cùng chấp nhận. Sau Hiến chương Liên Hợp quốc, UNCLOS 1982 được đánh giá là văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, được nhiều quốc gia ký kết và tham gia. UNCLOS 1982 có hiệu lực từ ngày 16/11/1994. Là một văn kiện pháp lý đa phương đồ sộ, bao gồm 320 điều và 9 Phụ lục, UNCLOS 1982 đã đáp ứng nguyện vọng và mong đợi của cộng đồng quốc tế về một trật tự pháp lý quốc tế mới đối với tất cả các vấn đề về biển và đại dương, bao gồm cả đáy biển và lòng đất dưới đáy biển.
Theo website của Liên Hợp quốc (www.org) thì tính đến ngày 20/9/2013, đã có 166 nước phê chuẩn và tham gia UNCLOS 1982, Niger là quốc gia thứ 166 gia nhập ngày 7/8/2013. UNCLOS 1982 thực sự là một bản hiến pháp về biển của cộng đồng quốc tế bởi Công ước không chỉ bao gồm các điều khoản mang tính điều ước mà còn là văn bản pháp điển hoá các quy định mang tính tập quán. UNCLOS 1982 thể hiện sự thoả hiệp mang tính toàn cầu, có tính đến lợi ích của tất cả các nước trên thế giới, dù là nước công nghiệp phát triển hay là nước đang phát triển. Công ước không chấp nhận bảo lưu mà đòi hỏi các quốc gia phải tham gia cả gói, có nghĩa là việc phê chuẩn hoặc tham gia Công ước đòi hỏi quốc gia phải có trách nhiệm thực hiện toàn bộ các điều khoản của Công ước.
UNCLOS 1982 đã trù định toàn bộ các quy định liên quan đến các vùng biển mà một quốc gia ven biển có quyền được hưởng, cũng như những quy định liên quan đến việc sử dụng, khai thác biển và đại dương, cụ thể là: Quy chế pháp lý của tất cả các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia; Chế độ pháp lý đối với biển cả và Vùng - di sản chung của loài người; các quy định hàng hải và hàng không; 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com việc sử dụng và quản lý tài nguyên biển bao gồm tài nguyên sinh vật và không sinh vật; Vấn đề bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, an ninh trật tự trên biển; việc giải quyết tranh chấp và hợp tác quốc tế về biển; Uỷ ban ranh giới ngoài thềm lục địa, toà án Luật biển quốc tế, hội nghị các quốc gia thành viên Công ước. Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, học viên tập trung vào nội dung phân định các biển theo UNCLOS 1982. Khái niệm phân định biển theo UNCLOS 1982 Theo quy định của UNCLOS 1982, tất cả các quốc gia ven biển đều được quyền hoạch định các vùng biển của mình như nội thuỷ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa. Đây không những là quyền mà ở một khía cạnh nào đó còn là nghĩa vụ của các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia thành viên của UNCLOS 1982, nhằm tạo ra sự ổn định và trật tự trong việc sử dụng và quản lý biển.
Trong trường hợp vùng biển của quốc gia độc lập, không có liên quan đến lợi ích của các quốc gia khác thì ranh giới của các vùng biển do các quốc gia ven biển xác định phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế. Tuy nhiên, trong trường hợp vùng biển của quốc gia ven biển lại nằm tiếp liền, đối diện hoặc chồng lấn với vùng biển của các quốc gia khác thì việc hoạch định ranh giới biển cần phải có sự thoả thuận của các quốc gia liên quan. Một cách tổng quát, phân định biển được hiểu là quá trình hoạch định đường ranh giới phân chia các vùng biển giữa hai hay nhiều quốc gia hữu quan. Vấn đề phân định biển được đặt ra cho các quốc gia có các vùng biển tiếp liền hoặc đối diện nhau.
Việc phân định biển nhằm mục đích xác định rõ đường biên giới biển phân chia vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia hoặc xác định đường biên giới phân chia vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia. Phân định biển là một vấn đề quan trọng trong luật biển. Vấn đề này không chỉ có ý nghĩa đối với mỗi quốc gia có biển trong xác định biên giới lãnh thổ quốc gia mà còn có vai trò đối với việc xác lập trật tự trên biển. Bên cạnh đó, phân định biển cũng là một vấn đề có tính nhạy cảm vì liên quan trực tiếp đến chủ quyền và lợi ích quốc gia.
Chính vì vậy, để tránh tình trang xung đột, việc phân định biển phải được tiến hành một cách hợp lý, tôn trọng pháp luật quốc tế và thực tiễn ở các quốc gia. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các nguyên tắc phân định biển Phân định biển là một hành vi mang tính quốc tế, vì vậy cần có sự thừa nhận của cộng đồng quốc tế. Do đó, việc phân định phải được thực hiện dựa trên những nguyên tắc của pháp luật quốc tế.
Theo quy định của UNCLOS 1982 (các Điều 15, Điều 74, Điều 83) và tham khảo các phán quyết của ICJ liên quan vấn đề phân định biển và các quy định của pháp luật quốc tế có thể hình thành nên một hệ thống cơ bản về các nguyên tắc phân định biển. Hệ thống nguyên tắc này sẽ là cơ sở pháp lý quốc tế cho việc phân định công bằng các vùng biển giữa các quốc gia ven biển láng giềng, đó là nguyên tắc thỏa thuận phù hợp với pháp luật quốc tế và nguyên tắc công bằng. Nguyên tắc thỏa thuận Phân định biển là vấn đề rất phức tạp, liên quan đến việc xác định giới hạn thụ đắc các vùng biển trên cơ sở pháp luật quốc tế của ít nhất là hai quốc gia. Vì vậy, các quốc gia có liên quan cần thông qua đàm phán, thương lượng để thoả thuận các phương pháp và tiêu chuẩn phân định.
UNCLOS 1982 khi quy định về phân định các vùng biển giữa các quốc gia có bờ biển đối diện hay tiếp giáp tại các điều 15, 74, 83 đều đưa nguyên tắc thoả thuận lên hàng đầu. Theo nguyên tắc này, việc phân định các vùng biển được hoạch định chỉ có hiệu lực trong trường hợp tất cả các quốc gia hữu quan trực tiếp thỏa thuận những tiêu chuẩn và phương pháp phân định vì đây là một hành vi pháp lý quốc tế. Những hành vi đơn phương của quốc gia ven biển trong trường hợp này sẽ không có hiệu lực và không được cộng đồng quốc tế thừa nhận. Do vậy, nghĩa vụ hoạch định ranh giới các vùng biển trên cơ sở thảo thuận đòi hỏi các quốc gia hữu quan tiến hành đàm phán một cách tự nguyện, thiện chí với những đề nghị thực sự nhằm đi đến một thỏa thuận thống nhất.
Tuy nhiên, nguyên tắc này lại không cho phép các quốc gia thỏa thuận một cách chiếu lệ, giản đơn, tùy tiện mà phải tuân theo các quy tắc pháp lý quốc tế. Điều này được giải thích theo khoa học pháp lý là quốc gia hữu quan có thể thỏa thuận về bất kỳ một phân định ranh giới nào của các vùng biển miễn là không xâm phạm đến quyền hợp pháp và lợi ích chính đáng của quốc gia khác [72]. Các phán quyết của ICJ ghi nhận nguyên tắc thoả thuận như sự phân định 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com này phải được mưu cầu và thực hiện qua một thoả thuận tiếp theo một cuộc đàm phán thiện chí với ý định thực tế đạt tới kết quả tích cực, nguyên tắc thỏa thuận cũng đã được thể hiện rõ trong vụ thềm lục địa Biển Bắc, đó là các bên phải tiến hành đàm phán nhằm đi đến một hoả thuận chứ không phải đơn thuần tiến hành một cuộc đàm phán hình thức, đây là một dạng điều kiện tiên quyết áp dụng tự động trong trường hợp không có thỏa thuận; các bên có nghĩa vụ xử sự sao cho đàm phán có ý nghĩa, đó không phải là trường hợp một khi một trong các bên khăng khăng giữ lập trường riêng của mình mà không trù liệu một sự điều chỉnh nào [46]. Để đạt đến kết quả, các bên trong quá trình đàm phán có thể nêu lên các yếu tố và hoàn cảnh cụ thể để củng cố lập luận của mình.
Tuy nhiên, cần phải dựa trên nguyên tắc công bằng, hợp lý, hợp tình và có chú ý đến tất cả mọi hoàn cảnh thích đáng, có tính đến tầm quan trọng của các lợi ích có liên quan đối với các bên tranh chấp và với cộng đồng quốc tế. Nguyên tắc công bằng Cùng với nguyên tắc thỏa thuận, nguyên tắc công bằng là một yêu cầu đặc biệt quan trọng trong việc phân định biển giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hoặc đối diện nhau. Theo nguyên tắc này, khi phân định biển, các quốc gia hữu quan có nghĩa vụ ấn định ranh giới các vùng biển trên cơ sở pháp luật quốc tế, đồng thời cân nhắc mọi hoàn cảnh có liên quan và lấy quan điểm thiện chí, hợp lý và công minh làm tư tưởng chỉ đạo để đạt được một giải pháp công bằng [61]. UNCLOS 1982 đã quy định thoả thuận giữa các quốc gia liên quan trong một vụ phân định biển phải đi đến một giải pháp công bằng (Điều 15, Điều 59, Điều 74 và Điều 83).
Tuy nhiên, phương pháp phân định nào có thể cho giải pháp công bằng thì UNCLOS 1982 lại không quy định rõ ràng. Công ước Giơnevơ năm 1958 về Thềm lục địa nêu ra phương thức đường cách đều đường trung tuyến như một phương thức đảm bảo tính công bằng trong phân định thềm lục địa, trừ trường hợp có hoàn cảnh đặc biệt (khoản 1 Điều 6). Trong các phán quyết của ICJ (vụ Thềm lục địa biển Bắc năm 1969, vụ Pháp - Anh về phân định thềm lục địa năm 1977), ICJ đã thẳng thừng bác bỏ tính ưu tiên 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của đường cách đều trong phân định biển. ICJ cho rằng áp dụng phương pháp phân định dựa vào tính cách đều không phải là bắt buộc giữa các bên và đó chỉ là một phương pháp trong số những phương pháp mang tính kỹ thuật để phân định.