Chương 1 TỔNG QUAN PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ PHÂN ĐỊNH BIÊN GIỚI BIỂN 1. Khái niệm “đƣờng biên giới quốc gia trên biển”, “phân định biên giới trên biển” 1. Khái niệm pháp lý về “đường biên giới quốc gia trên biển” Đất, biển, trời và lòng đất là bộ phận cấu thành và không thể tách rời của lãnh thổ quốc gia. Trong đó, phần đất - bao gồm đất liền, đảo, sông suối, hồ nội địa, lòng đất bên dưới - từ lâu đã được phân chia hết giữa các nước bằng các đường biên giới quốc gia xác định bởi thực tế quản lý hay điều ước quốc tế.
Đường biên giới trên đất liền được coi là bền vững và bất khả xâm phạm [26]. Tuy vậy, trên thực tế, hiện nay vẫn diễn ra nhiều tranh chấp biên giới và đường biên giới trên đất liền giữa các quốc gia trên thế giới cũng không phải luôn luôn ổn định. Vùng trời của các quốc gia về cơ bản cũng đã được phân định rõ ràng từ lâu và dựa chủ yếu vào việc phân chia các vùng đất. Trong thời gian gần đây có rất nhiều sự thay đổi mới lớn lao về phạm vi và chế độ pháp lý của các vùng biển thuộc một quốc gia ven biển, cũng như vùng biển, đáy và lòng đất dưới đáy vùng biển không thuộc bất kỳ một quốc gia nào.
Nguyên tắc cơ bản của luật biển là đất thống trị biển. Có thể thấy các thay đổi này diễn ra theo một tiến trình ba bước cơ bản sau [12]: Cho đến tận giữa thế kỷ 20, các quốc gia ven biển chỉ có vùng biển hẹp (lãnh hải) thuộc chủ quyền rộng 3 hải lý (với mỗi hải lý bằng 1. Phía ngoài còn lại tất cả là biển cả. Cá nhân, tổ chức, tàu thuyền của mỗi quốc gia được hưởng quyền tự do biển cả theo tập quán quốc tế.
Hầu như không ai chia biển với ai cả, đường biên giới biển trong lãnh hải giữa các nước thường được hình thành và tôn trọng theo tập quán [26]. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kể từ năm 1958 đến năm 1994, các quốc gia ven biển có lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải rộng không quá 12 hải lý, có vùng thềm lục địa trải dài dưới biển ra không quá độ sâu 200 m nước (theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1958). Các quốc gia láng giềng kế cận hay đối diện nhau, căn cứ vào luật pháp quốc gia, tự mình quy định các vùng biển dẫn đến có thể có sự chồng lấn lên nhau. Luật biển quốc tế lúc đó quy định các quốc gia có vùng chồng lấn phải cùng nhau giải quyết vạch đường biên giới biển (bao gồm biên giới biển trong lãnh hải, biển trong vùng tiếp giáp và thềm lục địa) trong vùng chồng lấn.
Hiện nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng về khoa học kỹ thuật và sự phát triển kinh tế thì khả năng chinh phục, khai thác biển của con người không ngừng được mở rộng. Vấn đề phân định biên giới trên biển của các quốc gia càng trở thành vấn đề cấp thiết. Từ khi Công ước Liên hợp quốc về luật biển ra đời năm 1982, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia ven biển được xác định và công nhận đáng kể theo quy định trong Công ước. Đồng thời, với sự ra đời của Công ước Luật biển năm 1982, có thêm khoảng 400 đường biên giới, quốc gia trên biển cần phải được phân định lại.
Cho đến nay, mới có khoảng 1/3 trên số đó là được phân định bằng các thỏa thuận song phương hay bằng phán quyết của Tòa án [12]. Vì thế, quá trình phân định biển nói chung và phân định biên giới trên biển nói riêng sẽ còn tiếp tục và sẽ chiếm một vị trí trung tâm trong quan hệ chính trị, pháp lý quốc tế hiện đại. Tóm lại, đường biên giới quốc gia trên biển là đường phân định phạm vi các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia. Khái niệm “phân định biên giới biển" và ý nghĩa của “phân định biên giới biển” Phân định biên giới trên biển là việc hoạch định và phân chia các vùng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biển thuộc chủ quyền quốc gia bao gồm nội thủy, lãnh hải trong trường hợp hai hay nhiều quốc gia có sự chồng lấn [18].
Phân định biên giới biển luôn được nhận định là vấn đề trung tâm của Luật Biển và là một vấn đề quan trọng trong thực tiễn phân định biển. Vấn đề này không chỉ có ý nghĩa đối với mỗi quốc gia có biển trong xác định biên giới vùng biển quốc gia mà còn có vai trò đối với việc xác lập trật tự trên biển. Bên cạnh đó, phân định biên giới trên biển cũng là một vấn đề có tính nhạy cảm vì liên quan trực tiếp đến các quyền và lợi ích quốc gia. Chính vì vậy, để tránh tình trang xung đột, việc phân định biên giới trên biển phải được tiến hành một cách hợp lý, tôn trọng pháp luật quốc tế và thực tiễn ở các quốc gia.
Một cách tổng quát, phân định biên giới trên biển được hiểu là quá trình hoạch định đường phân chia các vùng biển thuộc chủ quyền giữa hai hay nhiều quốc gia hữu quan. Vấn đề phân định biên giới trên biển được đặt ra cho các quốc gia có các vùng biển tiếp liền hoặc đối diện nhau. Việc phân định biên giới trên biển nhằm mục đích xác định rõ đường biên giới trên biển phân chia vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia. Việc xác định biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam là yêu cầu khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phù hợp với quy định của Luật Biển năm 1982 và thực tiễn quốc tế.
Đây là cơ sở pháp lý để xác định biên giới quốc gia, khu vực biên giới quốc gia trên biển; góp phần thiết thực vào việc quản lý, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ trên các khu vực biển, phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng- an ninh cho các địa phương ven biển, đảo. Nó cũng góp phần thiết thực xây dựng biên giới quốc gia nói chung, biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam nói riêng thành biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển theo quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ mới. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các căn cứ pháp lý về xác lập đƣờng biên giới quốc gia trên biển Trong vấn đề phân định biển thì vấn đề phân định biên giới quốc gia trên biển luôn được ưu tiên.
Do vậy, các quy phạm quốc tế về luật biển dành chủ yếu để phân định các vùng biển giữa các quốc gia [12], tạo ra công cụ hiệu quả để các quốc gia có thể thương lượng, thỏa thuận vùng biển chồng lấn có cơ sở. Các căn cứ pháp lý bao gồm các Điều ước quốc tế, song phương, đa phương như: Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS 1982) được 107 quốc gia ký kết (trong đó có Việt Nam) vào ngày 30/4/1982 là một văn bản pháp lý quốc tế quan trọng quy định về các vùng biển mà các quốc gia ven biển có quyền được hưởng cũng như việc sử dụng và khai thác biển và đại dương. Các điều ước song phương ký kết giữa các quốc gia về vấn đề phân định biên giới trên biển và phân định các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia hay quyền chủ quyền quốc gia. Ví dụ như: Hiệp định về vùng nước lịch sử giữa Việt Nam và Campuchia năm 1982.
Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế nói chung và luật biển quốc tế nói riêng như nguyên tắc công bằng, nguyên tắc thỏa thuận trong phân định biên giới trên biển, nguyên tắc đất thống trị biển, nguyên tắc xác lập chủ quyền bằng chiếm hữu, nguyên tắc Uti possidetis… Ngoài ra còn có các tập quán quốc tế, án lệ, học thuyết, quan điểm của các nhà luật học nổi tiếng thế giới… Cơ sở pháp lý về xác lập các đường biên giới trên biển giữa các quốc gia dựa trên các nguồn của luật quốc tế nêu trên. Chủ quyền trên biển là quyền tối cao của quốc gia đối với vùng biển nằm bên trong đường biên giới quốc gia trên biển bao gồm vùng nội thủy và vùng lãnh hải. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Biên giới trên biển của mỗi quốc gia phải được hiểu là ranh giới phía ngoài của lãnh hải do quốc gia ven biển thiết lập phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế. Đối với các đảo của một quốc gia nằm ngoài phạm vi lãnh hải của quốc gia này, Biên giới quốc gia trên biển là đường ranh giới phía ngoài của lãnh hải bao quanh đảo.
Biên giới trên biển giữa các quốc gia kế cận hoặc đối diện nhau có lãnh hải chồng lấn nhau được thiết lập trên cơ sở thoả thuận giữa các quốc gia liên quan và được thể hiện bằng điều ước về hoạch định biên giới biển. Đồng thời, biên giới quốc gia trên biển cũng được thể hiện trên các hải đồ có tỉ lệ thích hợp hoặc bằng bảng kê các tọa độ địa lí các điểm có ghi rõ hệ thống trắc địa được sử dụng. Trên cơ sở đó, các quốc gia ven biển, trong đó có Việt Nam, đã ra các tuyên bố để khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình đối với các vùng biển liên quan. Ví dụ như tại Điều 5, Luật biên giới quốc gia Việt Nam xác định: “Biên giới quốc gia trên biển được hoạch định và đánh dấu bằng các toạ độ trên hải đồ là ranh giới phía ngoài lãnh hải của đất liền, lãnh hải của đảo, lãnh hải của quần đảo của Việt Nam” [21].
Theo quy định của Luật biển quốc tế, tất cả các quốc gia ven biển đều được quyền hoạch định các vùng biển của mình như nội thuỷ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế. Đây không những là quyền mà ở một khía cạnh nào đó còn là nghĩa vụ của các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia thành viên của Công ước Luật biển 1982, nhằm tạo ra sự ổn định và trật tự trong việc sử dụng và quản lý biển. Trong trường hợp vùng biển của quốc gia độc lập, không có liên quan đến lợi ích của các quốc gia khác thì ranh giới của các vùng biển do các quốc gia ven biển xác định phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế. Tuy nhiên, trong trường hợp vùng biển của quốc gia ven biển lại nằm tiếp liền, đối diện hoặc 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.