đặt vấn đề trách nhiệm hình sự đối với họ, vì việc không xảy ra là do nguyên nhân khách quan, còn chủ quan người phạm tội vẫn sẵn sàng chấp nhận việc nó xảy ra. Về mặt thực tiễn, hiện nay chúng ta đã gặp những vụ việc đòi hỏi cần xét xử về hình sự và việc xét xử này chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở thừa nhận nguyên tắc: các giai đoạn thực hiện tội phạm và trách nhiệm hình sự đối với các giai đoạn phạm tội được đặt ra cho cả trường hợp phạm tội cố ý gián tiếp" [28, tr. Chúng tôi nhận thấy, ý kiến này cũng chứa đựng điểm hợp lý, tuy nhiên, thực tiễn xét xử ở Việt Nam chỉ thừa nhận có giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt đối với loại tội cố ý trực tiếp, đối với trường hợp phạm tội với lỗi cố ý gián tiếp thì người phạm tội đã nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhận thức được hậu quả do hành vi của mình có thể gây ra nhưng hậu quả đó không phải là mục đích chính của người phạm tội. Chính vì không mong muốn gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội nên họ phải chịu trách nhiệm hình sự hay nói cách khác là không xảy ra ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt ở đây vì thái độ của họ là thờ ơ, bỏ mặc.
Cho nên, khoa học luật hình sự và thực tiễn xét xử ở nước ta cho thấy giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt cũng như tội phạm hoàn thành chỉ xảy ra với lỗi cố ý trực tiếp mà thôi. Vấn đề tiếp theo là các giai đoạn phạm tội do cố ý có thể chỉ được đặt ra với tội có cấu thành tội phạm vật chất hay cả với những tội có cấu thành hình thức; có thể chỉ đặt ra với hành vi khách quan được thực hiện ở dạng hành động hay còn cả ở dạng không hành động. Theo quan điểm được thừa nhận chung trong khoa học luật hình sự nhiều nước và Việt Nam thì: trong các tội thực hiện do cố ý trực tiếp chỉ đối với các tội có cấu thành tội phạm vật chất mới có đầy đủ các giai đoạn thực hiện thành phần (chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành), ví dụ: Tội hiếp dâm (Điều 111 Bộ luật hình sự). Còn trong các tội có cấu thành tội phạm hình thức do hậu quả không phải là điều kiện bắt buộc của tội phạm nên trong các loại tội này chỉ có thể có tội phạm hoàn thành có chuẩn bị phạm tội mà không có phạm tội 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chưa đạt.
Bởi vì, khi người phạm tội thực hiện hành vi khách quan của cấu thành tội phạm thì cũng là lúc tội phạm hoàn thành và không thể coi là phạm tội chưa đạt được. Ví dụ: Tội cướp tài sản (Điều 133), người phạm tội đã thực hiện hành vi dùng bạo lực tấn công người khác nhưng chưa chiếm đoạt được tài sản của người đó thì đã cấu thành tội cướp tài sản; hay tương tự là tội phản bội Tổ quốc (Điều 78), tội gián điệp (Điều 80 Bộ luật hình sự); v. Ngoài ra, riêng đối với tội có cấu thành tội phạm cắt xén thì không có các giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt mà chỉ có tội phạm hoàn thành. Ví dụ: Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 79 Bộ luật hình sự).
Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, tội phạm có cấu thành hình thức có thể có giai đoạn phạm tội chưa đạt, vì các tác giả này cho rằng phạm tội chưa đạt có thể xảy ra trong trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi đi liền trước hành vi khách quan. Ví dụ: Tội cướp tài sản (Điều 133), tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134), tội hiếp dâm (Điều 111), tội xâm phạm an ninh lãnh thổ (Điều 81 Bộ luật hình sự). Với quan điểm này, chúng tôi không đồng tình bởi vì riêng đối với tội hiếp dâm có giai đoạn phạm tội chưa đạt. Dấu hiệu hành vi khách quan của tội này bao gồm: Một là, hành vi dùng vũ lực (hoặc dùng thủ đoạn khác) để thực hiện, hai là, hành vi giao cấu trái với ý muốn của người phụ nữ.
Nếu người phạm tội đã cố ý dùng vũ lực rồi mặc dù chưa thực hiện được hành vi giao cấu thì sẽ cấu thành tội hiếp dâm ở giai đoạn phạm tội chưa đạt. Bởi vì, ở tội này có cấu thành có cấu thành vật chất chứ không phải có cấu thành hình thức. Còn đối với tội cướp tài sản và tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thì chỉ cần người phạm tội thực hiện hành vi dùng vũ lực đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực hay hành vi bắt cóc con tin và hành vi đe dọa nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc bất kỳ một hành vi nào được mô tả trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm thì tội phạm đã hoàn thành. Như vậy, chúng tôi không đồng ý với quan điểm trên vì nó không phù hợp với bản chất của giai đoạn phạm tội chưa đạt.
19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cũng như mọi trường hợp phạm tội nói chung, các trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt đều được thực hiện bằng hành vi phạm tội. Và các hành vi này chỉ có thể dưới dạng hành động. Ví dụ: Tội phản bội Tổ quốc (Điều 78 Bộ luật hình sự). Còn loại tội được thực hiện bằng không hành động chỉ xảy ra trong trường hợp tội phạm hoàn thành chứ không thể xảy ra trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt được, tuy nhiên loại tội này chỉ chiếm một tỷ lệ không nhiều trong Bộ luật hình sự Việt Nam.
Ví dụ: Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng (Điều 102 Bộ luật hình sự); v. Hiện nay, trong khoa học luật hình sự Việt Nam các giai đoạn phạm tội do cố ý đều thống nhất là bao gồm - chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành. Với quy định này, việc xác định mức hình phạt áp dụng đối với người thực hiện những hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt cụ thể hơn và quy định tỷ lệ hình phạt tối đa so với hình phạt có thể được áp dụng trong trường hợp tội phạm hoàn thành. Việc quy định các giai đoạn phạm tội nói chung và quy định chính xác tội phạm chưa hoàn thành nói riêng (chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt) trong từng trường hợp cụ thể có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi là cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt.
Hành vi ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội bao giờ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội cũng thấp hơn ở giai đoạn phạm tội chưa đạt và tương ứng như vậy, ở giai đoạn phạm tội chưa đạt luôn thấp hơn so với giai đoạn tội phạm hoàn thành. Quy định về chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt là cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự, xác định đúng mức nguy hiểm cho xã hội của hành vi nhằm bảo đảm sự thống nhất chặt chẽ trong quyết định hình phạt một cách công minh, không để oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội theo đúng cơ sở của trách nhiệm hình sự: "Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự" (Điều 2 Bộ 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com luật hình sự). Theo đó, quy định cơ sở của trách hình sự như đã nêu chính là thể hiện các nguyên tắc pháp chế và công bằng trong luật hình sự nước ta. Với pháp chế, - chính là sự thể hiện cơ sở duy nhất, rõ ràng và dứt khoát nội dung ".
phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định." của trách nhiệm hình sự, còn với công bằng, - có nghĩa bảo đảm sự bình đẳng ngang nhau trong đánh giá hành vi phạm tội của những người phạm tội, bình đẳng trước pháp luật đối với tất cả mọi người với nội dung "người nào." có nghĩa không trừ bất kỳ một ai trong xã hội [79, tr. Về điều này, C. dưới con mắt của kẻ phạm tội, sự trừng phạt phải là kết quả tất yếu của hành vi do chính người đó - do đó phải là hành vi của chính người đó. Giới hạn của y phải là giới hạn của sự trừng phạt.
Quy định về các giai đoạn phạm tội do cố ý có ý nghĩa rất quan trọng, nó là căn cứ để định tội danh. Điều này có nghĩa, việc xác định hành vi chuẩn bị phạm tội nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội chưa đạt đã thực hiện mà phạm vào một tội gì có trong số những tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự. Việc xác định hành vi của một người đã phạm tội gì chính là quá trình xác định hành vi của họ có thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm trong Bộ luật hình sự. Khi xác định tội danh đó phải căn cứ vào các quy định về chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và các tội phạm cụ thể được pháp luật hình sự quy định thì mới định tội và định tội đối với đúng người và đúng pháp luật.
Tóm lại, các giai đoạn phạm tội là những bước phát triển trong quá trình thực hiện tội phạm do cố ý, phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trong từng thời điểm khác nhau - chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành. Như vậy, dưới góc độ khoa học, việc phân chia các giai đoạn phạm tội trong luật hình sự dựa trên các căn cứ sau: 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ nhất, dựa trên diễn biến khách quan của quá trình phạm tội mà cụ thể là dựa vào dấu hiệu hành vi và dấu hiệu hậu quả của tội phạm. Theo đó, tội phạm hoàn thành là tội phạm đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu khách quan được quy định trong luật. Trong khi đó, phạm tội chưa đạt là trường hợp tội phạm không thực hiện được đến cùng do những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội ngăn cản, nói cách khác đó là hành vi chưa thỏa mãn các dấu hiệu khách quan của cấu thành tội phạm.