CHƯƠNG 1 TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ “PHẠM TỘI 02 LẦN TRỞ LÊN” QUY ĐỊNH TẠI ĐIỂM G KHOẢN 1 ĐIỀU 52 BLHS NĂM 2015 1. Một số vấn đề lý luận, pháp lý của pháp luật hình sự Việt Nam về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” Phạm tội nhiều lần là một trong những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Bộ Luật hình sự 1999. Tuy nhiên đến lượt mình, Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 đã có sự thay đổi thuật ngữ phạm tội nhiều lần bằng thuật ngữ phạm tội 02 lần trở lên. Phạm tội nhiều lần là thực hiện tội phạm mà trước đó chủ thể đã phạm tội đó ít nhất một lần và chưa bị xét xử.
Nếu khái niệm phạm tội nhiều lần theo quy định của Bộ Luật hình sự 1999 khiến cho người áp dụng pháp luật lúng túng phạm tội bao nhiêu lần được coi là phạm tội nhiều lần. Thì đến Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 với thuật ngữ phạm tội 02 lần trở lên đã thể hiện một cách rõ ràng, dễ hiểu. Tại điểm g, khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự 2015 (BLHS) thì đây là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đồng thời cũng là một tình tiết định khung tăng nặng của nhiều tội trong BLHS. Về khái niệm Phạm tội 02 lần trở lên là gì thì chưa có một định nghĩa nào rõ ràng, và cũng chưa có một văn bản nào đưa ra một khái niệm cụ thể, chỉ có đưa ra khái niệm về Phạm tội 02 lần trở lên của một tội danh nào đó.
Như Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 thì quy định là phạm tội hai lần được hiểu là phạm cùng một tội, từ 02 lần trở lên, nhưng những lần trước chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh đó. Đã có rất nhiều quan điểm về vấn đề này Có quan điểm cho rằng “Phạm tội 02 lần trở lên là phạm từ hai tội trở lên mà những tội ấy được quy định tại cùng một điều luật hoặc tại cùng một khoản của điều luật tương ứng trong phần riêng Bộ luật hình sự, đồng thời đối với những tội ấy vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và người phạm tội vẫn chưa bị xét xử. Quan điểm thứ hai cho rằng, “Phạm tội 02 lần trở lên là có từ hai lần trở lên phạm cùng một loại tội, trong đó mỗi lần đều đã có đủ yếu tố cấu thành tội phạm, chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự, nay các lần phạm tội đó được xét xử trong cùng một bản án. Như bị cáo bị truy tố về tội trộm cắp tài sản, trước đó bị cáo đã thực hiện hành vi này 5 lần nhưng đều 8 chưa bị truy tố về tội danh này thì khi bị cáo bị truy tố lần thứ 6 thì hành vi trước đó là tình tiết tăng nặng cho bị cáo.
Quan điểm thứ ba cho rằng, “Phạm tội 02 lần trở lên là đã từ hai lần phạm tội đó trở lên, mà mỗi lần phạm tội có đầy đủ yếu tố cấu thành của tội đó, đồng thời, trong các lần phạm tội đó, chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và cũng chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Quan điểm thứ tư cho rằng, “Phạm tội 02 lần trở lên là có thể phạm nhiều tội và ở mỗi tội vi phạm từ hai lần trở lên, mà mỗi lần phạm tội có đầy đủ yếu tố cấu thành của tội phạm phải, đồng thời, trong các lần phạm tội đó, chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và cũng chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự”. Như hai lần trộm cắp tài sản, hai lần buôn mà túy, một lần buôn bán hàng cấm, tất cả tội đó tạo thành tình tiết tăng nặng của bị cáo. Như vậy, có thể thấy, hiện nay thế nào là “phạm tội 02 lần trở lên” vẫn chưa có sự thống nhất và tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau.
Dựa theo BLHS trong từng tội đều có một tình tiết để tăng nặng và đều liệt kê về “phạm tội từ 02 lần trở lên. Về quan điểm của tác giả và căn cứ theo BLHS thì tác giả theo quan điểm phạm một tội từ 02 lần trở lên, tức là nếu một người bị truy tố về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Trước đó người này đã nhiều lần buôn bán và mỗi lần như vậy đều buôn bán với một số lượng lớn tuy nhiên chưa bị truy tố lần nào thì lần thứ 4 bị bắt và bị truy tố này sẽ lấy các lần phạm tội trước làm tình tiết tăng nặng cho bị cáo. Mức độ tăng nặng của tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” tùy thuộc vào số lần phạm tội cũng như tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm mà mỗi lần người phạm tội thực hiện.
Hiện nay, “phạm tội 02 lần trở lên” bên cạnh được quy định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 thì còn được 1 quy định là tình tiết định khung tăng nặng trong rất nhiều tội danh khác nhau. Về cách áp dụng, khoản 2 Điều 52 BLHS năm 2015 quy định: “Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng”. Như vậy, theo khoản 2 Điều 52 BLHS năm 2015 có thể thấy, “phạm tội 02 lần trở lên” được nhà làm luật quy định vừa là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, vừa là tình tiết định khung tăng nặng trong một số tội danh và “phạm tội 02 lần trở lên” chỉ được áp dụng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 khi tình tiết này không được quy định hoặc áp dụng với tư cách là tình tiết định khung tăng nặng. 1 Điều 207 BLHS năm 2015 9 Hiện nay, việc áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” cũng có nhiều văn bản pháp luật hướng dẫn để áp dụng trong quá trình xét xử cụ thể: Tại mục 4 Phần 1 Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 3/4/2019 của TANDTC đã hướng dẫn nội dung sau đối với các tội xâm phạm sở hữu: “Trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng một loại hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu (ví dụ: nhiều lần phạm tội trộm cắp tài sản), mà tổng trị giá tài sản của các lần phạm tội thỏa mãn dấu hiệu định khung tăng nặng, nếu các lần phạm tội đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì ngoài việc bị áp dụng khung hình phạt tương ứng với trị giá tài sản chiếm đoạt, họ còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
Việc áp dụng khung hình phạt tăng nặng trong trường hợp này là căn cứ vào trị giá tài sản chiếm đoạt, còn việc áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” là căn cứ vào nhân thân và thái độ chấp hành pháp luật của người phạm tội, nên hoàn toàn không trái với quy định tại khoản 2 Điều 52BLHS. Hơn nữa, việc áp dụng pháp luật như trên còn bảo đảm thực hiện đúng nguyên tắc xử lý trách nhiệm hình sự (quy định tại Điều 3 BLHS), bảo đảm sự phân hóa tội phạm, cá thể hóa trách nhiệm hình sự, đồng thời bảo đảm sự công bằng trong việc xem xét cho hưởng án treo, tha tù trước thời hạn có điều kiện cũng như các chế định nhân đạo khác đối với người phạm tội”. Tại điểm c khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã hướng dẫn về việc áp dụng 2 trong tội đánh bạc : “Trường hợp đánh bạc từ hai lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 2 triệu đồng trở lên) thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS”. Tại tiểu mục 3.3 mục 3 phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của HĐTP TANDTC đã hướng dẫn việc áp dụng tình tiết tăng nặng trách 3 nhiệm hình sự “phạm tội nhiều lần” đối với người phạm tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả được quy định tại Điều 180 2 Điểm c khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC 3 Xem chú thích 2 Tiểu mục 3.3 mục 3 phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của HĐTP TANDTC 10 BLHS 1999 với nội dung: “Đối với người nhiều lần làm hoặc tàng trữ hoặc vận chuyển hoặc lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả thì cần phải lấy tổng số lượng tiền giả của tất cả các lần phạm tội cộng lại để xem xét trách nhiệm hình sự đối với họ; nếu trong các lần phạm tội đó có trường hợp đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì không xem xét trách nhiệm hình sự đối với trường hợp đó (không cộng số lượng tiền giả của lần phạm tội đó); nếu có hai lần phạm tội làm hoặc tàng trữ hoặc vận chuyển hoặc lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả trở lên thì ngoài việc cộng số lượng tiền giả của các lần phạm tội để xem xét trách nhiệm hình sự đối với họ, còn phải áp dụng tình tiết tăng nặng "phạm tội nhiều lần" quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS” Ngoài những văn bản nêu trên, hiện có rất nhiều khái niệm, quan điểm khác nhau về tình tiết phạm tội nhiều lần như “Phạm tội nhiều lần là trường hợp thực hiện tội phạm mà trước đó người phạm tội đã phạm tội này ít nhất là một lần và chưa bị xét xử.
Hành vi phạm tội trong trường hợp này là sự lặp lại tội đã phạm trước đó nên có 4 mức độ nguy hiểm cao hơn trường hợp bình thường”. Như vậy “phạm tội nhiều lần” tức là người phạm tội ít nhất là đã 02 (hai) lần thực hiện tội phạm trở lên, cùng tội (lặp lại tội đã phạm) với tội đang bị khởi tố và chưa đưa ra xét xử.