phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm các chương sau: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Chƣơng 2: Thực tiễn giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam Chƣơng 3: Kiến nghị và giải pháp về việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI 1. Lƣợc sử phát triển vấn đề con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài trong pháp luật Việt Nam Từ trước cho đến nay, chúng ta cũng chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về sự hình thành chế định nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong pháp luật Việt Nam cho nên thật khó xác định chế định nài lần đầu tiên xuất hiện trong cổ luật Việt Nam từ khi nào. Tuy nhiên, khi xem xét trong các đạo luật của thời phong kiến thì vấn đề nuôi con cũng đã được đề cập đến, tuy không phải là phổ biến. Trong Bộ luật Hồng Đức ban hành dưới triều Lê, trong tập luật lệ mang tên Hồng Đức Thiện Chính Thư, cũng được ban hành dưới triều Lê thì vấn đề nuôi con nuôi đã được quy định tại điều 290, 380 và 381 Bộ luật Hồng Đức và các đoạn 92, 110, 254, 057, 70 và 271 Hồng Đức Thiện Chính Thư.
Khi xem xét bác chính sách cũng như các văn bản pháp luật của Việt Nam, dường như chế định nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài mới được nói đến trong thời gian gần đây. Cụ thể có thể chia thành các giai đoạn như sau: - Giai đoạn 1: trước năm 1986, đây là giai đoạn trước khi ban hành Luật hôn nhân và gia đình (HNGĐ) năm 1986 - Giai đoạn 2: từ năm 1986 đến năm 2003, đây là giai đoạn ban hành Luật HNGĐ 2000, thay thế luật HNGĐ năm 1986 với những quy định chi tiết và rõ ràng hơn về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài - Giai đoạn 3: từ năm 2003 đến nay. Việc lựa chọn thời điểm năm 2003 là thời điểm Nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật HNGĐ về quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài chính thức có hiệu lực. Trong giai đoạn này, chính sách về vấn đề con nuôi có yếu tố nước ngoài có những thay đổi so với giai đoạn trước (Hộp số 1.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hộp số: 1.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CHẾ ĐỊNH NUÔI CON NUÔI NHỮNG MỐC VĂN BẢN PHÁP LUẬT QUAN TRỌNG Ban hành Nghị định 68/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật HNGĐ năm 2000 về quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài (2002) Ban hành Luật Hôn nhân và gia đình (2000) Ban hành thông tư liên bộ số 503/TT-LB hướng dẫn chi tiết thi hành Nghị định 184/CP của Chính phủ (1995) Ban hành Nghị định số 184/CP quy định về thủ tục kết hôn, nhận con ngoài giá thú, nuôi con nuôi, nhận đỡ đầu giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài (1994) Ban hành pháp lệnh HNGĐ giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài (1993) Ban hành Quyết định số 145/HĐBT quy định tạm thời về việc cho người nước ngoài nhận con nuôi là trẻ em Việt Nam bị bỏ rơi, mồ côi, bị tàn tật ở các cơ sở nuôi dưỡng (1992) Ban hành Luật hôn nhân và gia đình (1986) Ban hành Luật HNGĐ (1959) 1940 1950 1960 1970 1980 1990 2000 2005 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Giai đoạn trƣớc năm 1986 Luật HNGĐ năm 1959 đã được Quốc hội khoá 1, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 29/12/1959, đây là văn bản pháp lừ đầu tiên có những quy định về chế độ nuôi con nuôi, còn trước đó vấn đề này chưa được quy đ^nh cụ thể ở bất kỳ một văn bản pháp lý nào mà hầu như chỉ được thừa nhận như một quyền công dân nói chung và khằng định trẻ em có quyền chăm sóc và bảo vệ. Chẳng hạn như Hiến pháp 1946 quy định: “. Trẻ em được chăm sóc về mặt giáo dưỡng” (Điều thứ 14); hoặc Hiến pháp 1959 quy định: “. Nhà nước bảo hộ quyền lợi của người mẹ và của trẻ em, bảo đảm phát triển các nhà đỡ trẻ, nhà giữ trẻ và vườn trẻ” (Điều 24).
Sắc lệnh số 97-SL ngày 22/5/1950 về dân luật và hôn nhân và gia đình cũng chỉ có một điều khoản quy định: “cho phép con hoang được tự mình xin truy nhận cha hoặc mẹ”. Như vậy, có thể nhận thấy rằng những quy định này mới chỉ mang tính “tuyên ngôn” chứ chưa được quy định cụ thể vấn đề cho trẻ em làm con nuôi nói chung và trẻ em làm con nuôi người nước ngoài nói riêng được tiến hành như thế nào? Như đã nói ở trên, Luật HNGĐ 1959 được Quốc hội thông qua được đánh giá và khẳng định là: “công cụ pháp lý của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà vì lợi ích của việc xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình mới đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng của toàn dân” [30]. Tuy nhiên, chế định nuôi con nuôi không quy định tập trung vào một chương riêng và đặc biệt là không có quy định về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Những quy định về vấn đề con nuôi được quy định tại các điều 9, 18 và điều 24 Luật HNGĐ 1959.
Xét trên bình diện tổng thể có thể thấy rằng tư tưởng, quan điểm của nhà làm luật thời kỳ này mong muốn xoá bỏ những tàn tích của chế độ hôn nhân và gia đình cũ vẫn còn tồn tại khá sâu rộng trong đại bộ phận tầng lớp nhân dân. Chính vì vậy những quy định về con nuôi cũng bị ảnh hưởng nhiều từ tư tưởng chỉ đạo đó, khi phân tích những quy định trong luật chúng ta nhận thấy rằng những quy định này đã không thừa nhận quan điểm nhận con nuôi xuất phát từ lợi của cha mẹ như để thừa kế, thờ tự, chăm sóc. mà dần tiếp cận với quan điểm của pháp luật hiện đại là việc 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhận con nuôi hay chấm dứt con nuôi đều xuất phát từ lợi ích của người được nhận làm con nuôi. Cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa cha mẹ nuôi và con nuôi (Điều 9) Cha mẹ không được hành hạ con cái, không được đối xử tàn tệ với con dâu, con nuôi, con riêng (Điều 18) Con nuôi có quyền lợi và nghĩa vụ như con đẻ.
Việc nhận nuôi con nuôi phải được Uỷ ban hành chính cơ sở nơi trú quán của người nuôi hoặc của đứa trẻ công nhận và ghi vào sổ hộ tịch. Toà án nhân dân có thể huỷ bỏ việc công nhận ấy, khi bản thân người con nuôi hoặc bất cứ người nào, tổ chức nào yêu cầu, vì lợi ích của người con nuôi (Điều 24) Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng trong giai đoạn này, khi cả nước đang dồn sức cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và ngay sau đó toàn Đảng, toàn dân lại hướng tới một mục tiêu vô cùng to lớn đó là: “giai đoạn cả nước độc lập thống nhất và làm nhiệm vụ chiến lược duy nhất là tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” (Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 4 của Đảng) cho nên vấn đề con nuôi, đặc biệt là con nuôi có yếu tố nước ngoài chưa được quan tâm đúng mức, mặc dù lúc bấy giờ trong xã hội nhu cầu không phải là không có. Luật HNGĐ năm 1959 nói riêng và những văn bản quy phạm pháp luật có liên quan cũng chưa đề cập một cách cụ thể, chi tiết tới vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Giai đoạn sau năm 1986 – 2003 Do có sự tác động khách quan và chủ quan, trong giai đoạn này Việt Nam đã có những bước tiến bộ vượt bậc trong công tác xây dựng khung pháp luật về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Cụ thể là: Luật HNGĐ năm 1986, Luật bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em, Hiến pháp năm 1992, Pháp lệnh HNGĐ giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài 1993, Nghị định 184/CP năm 1994 quy định thủ tục kết hôn, nhận con ngoài giá thú, nhận đỡ đầu công dân Việt Nam với người nước ngoài, Bộ luật dân sự năm 1995. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com * Từ năm 1986 đến năm 1992: Sau năm 1986, Việt Nam bước vào giai đoạn đổi mới, mở cửa phát triển kinh tế theo nền kinh tế hàng hoá thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Về quan hệ đối ngoại, Việt Nam mong muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, hợp tác, đôi bên cùng có lợi. Chính vì vậy, các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài có những biến đổi nhất định cả về chất và lượng.
Trước kia, các quan hệ dân sự giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài chỉ bó hẹp trong quan hệ giữa công dân Việt Nam với công dân các nước xã hội chủ nghĩa, sau khi mở cửa thì những quan hệ này mở rộng đối với người nước ngoài thuộc nhiều quốc gia với chế độ chính trị khác nhau. Trong các quan hệ dân sự thì quan hệ hôn nhân với người nước ngoài và quan hệ nuôi con nuôi với người nước ngoài ngày càng phát triển. Như chúng ta đã biết, trong giai đoạn trước đó, pháp luật Việt Nam chưa quy định cụ thể việc cho và nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài, cho đến ngày 29/12/1986 Luật HNGĐ mới được Quốc hội thông qua thay thế Luật HNGĐ năm 1959. Lần đầu tiên có một chương riêng quy định về việc nuôi con nuôi và đưa ra những nguyên tắc chung nhất về nuôi con nuôi như mục đích của việc nuôi con nuôi, điều kiện nhận nuôi con Hộp số: 1.2 nuôi, thẩm quyền đăng ký Khó khăn khi xin trẻ em Việt Nam làm con nuôi việc nuôi con nuôi.
Tuy Trước năm 1998, việc cho trẻ em mồ côi Việt Nam có nhiên, Luật HNGĐ năm 1986 hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đi làm con nuôi người chưa có quy định cụ thể về nước ngoài là những trường hợp hết sức hãn hữu với số quan hệ hôn nhân gia đình có lượng hàng năm có thể đếm trên đầu ngón tay.