Chương 1 – Giới thiệu: Trình bày mục tiêu và động lực để nghiên cứu mô hình nội suy thời gian đến trạm của xe buýt trên bản đồ không gian – thời gian, cũng như đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu và cách thức tiếp cận đề tài theo phương pháp phân tích từ trên xuống thông qua việc tự đặt câu hỏi và trả lời. Chương 2 – Tổng quan về các nghiên cứu được liên quan: Giới thiệu tổng quan về các lý thuyết nghiên cứu được áp dụng trong luận văn: lý thuyết về trực quan hóa dữ liệu, lý thuyết nội suy, máy học và các bài báo tham chiếu. Chương 3 – Nội suy thời gian đến tại một trạm của xe buýt: Trình bày các quy trình áp dụng để thực hiện việc nội suy thời gian đến trạm của xe buýt và cách thức trực quan hóa thông tin, dữ liệu trên bản đồ không gian – thời gian. Phương pháp xây dựng hàm nội suy sai phân tiến Newtơn cho bộ dữ liệu đã thu thập và ứng dụng phương pháp mạng LSTM để huấn luyện dữ liệu, đồng thời trình bày các giải thuật áp dụng.
Chương 4 – Kết quả nghiên cứu và đánh giá kết quả: Mô tả kết quả thực nghiệm bằng phương pháp nội suy và mô hình mạng LSTM để ước lượng thời gian mà xe buýt sẽ đến trạm dựa trên bộ dữ liệu 5 thu thập được và cách thức biểu diễn dữ liệu trên bản đồ không gian – thời gian. Chương 5 – Kết luận và hướng phát triển: Trong chương này, luận văn đã tóm tắt các kết quả đạt được thông qua việc đề xuất phương pháp nội suy và mô hình mạng LSTM để ước lượng thời gian đến trạm của xe buýt và phương pháp trực quan hóa thông, dữ liệu trên bản đồ không gian – thời gian. Luận văn cũng đề xuất hướng nghiên cứu mới để ước lượng thời gian đến trạm của xe buýt thông qua việc xây dựng hàm Gauss. 6 Chương 2 TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU ĐƯỢC LIÊN QUAN 2.
GIỚI THIỆU Luận văn vận dụng lý thuyết nội suy để ước lượng thời gian đến trạm của xe buýt với các mốc nội suy là thời gian đến trạm thực tế của xe buýt đã được thu thập. Lý thuyết DeepLearning, Mạng Nơron được nghiên cứu để dự đoán độ sai lệch giữa thời gian nội suy với thời gian thực tế mà xe buýt sẽ đến trạm. Lý thuyết về trực quan hóa dữ liệu được ứng dụng để biểu diễn trực quan hóa bản đồ xe buýt và thời gian mà xe buýt sẽ đến trạm. Bên cạnh đó, luận văn cũng được phát triển và xây dựng dựa trên nền tảng nghiên cứu của Thầy PGS.TS Trần Vĩnh Phước và các cộng sự bao gồm: - Visualization of Spatio-temporal Data of Bus Trips - Representing Uncertain Time on Space-time - An Approach to Representing Movement Data - Visualization Cube for Tracking Moving Object 2.
CÁC KHÁI NIỆM ĐƯỢC LIÊN QUAN Bản đồ không gian – thời gian là một hình khối không gian – thời gian trên hệ tọa độ Đề-các ba chiều nhằm biểu diễn các đối tượng không gian, các đối tượng không-gian thời gian và các đường cong không gian-thời gian có thứ tự nhằm kết nối các đối tượng không gian – thời gian lại với nhau, đây chính là đường biểu diễn sự dịch chuyển của các đối tượng không gian – thời gian. 7 Độ sai lệch thời gian Δt chính là sự sai lệch giữa thời gian t’ được ước lượng từ phương pháp nội suy sai phân tiến Newtơn với thời gian thực tế t mà xe buýt sẽ đến trạm, giá trị này được tính bằng: Δt = t’ – t. Thời gian đến là thời gian thực tế mà xe buýt đến trạm dừng xe buýt. Thời gian thực tế t là thời gian mà xe buýt đến trạm dừng theo thực tế.
Thời gian nội suy t’ là thời gian ước lượng mà xe buýt đến trạm dừng thông qua phương pháp nội suy sai phân tiến Newtơn. Sai số toàn phương trung bình (MSE) là một phương pháp dùng để đánh giá các sai số trong các mô hình ước lượng. Sai số này được xác định bằng trung bình cộng của các bình phương sai số giữa giá trị ước lượng với giá trị đánh giá. Sai số toàn phương trung bình gốc (RMSE) được tính bằng căn bậc hai sai số MSE, RMSE được sử dụng để nghiên cứu về khuynh hướng sai số, biên độ sai số tuyệt đối và giá trị sai số thực.
Bộ lọc Kalman là một tập hợp các phương trình toán học nhằm cung cấp một phương pháp tính toán đệ quy (recursively) hiệu quả để ước lượng trạng thái của một quá trình, theo cách tối thiểu hóa giá trị trung bình của bình phương lỗi (phương sai: mean squared error). Bộ lọc rất hiệu quả trên các khía cạnh sau: Nó cho phép ước lượng trạng thái quá khứ, hiện tại thậm chí cả tương lai, và bộ lọc có thể hoạt động ngay cả khi độ chính xác thực sự của mô hình hệ thống là chưa biết. Tổng quan Theo Kaizen [3], trực quan hóa là một trong những kỹ thuật biến đổi thông tin thành những hình ảnh, biểu đồ hoặc hoạt động diễn hoạt để con người có thể quan sát bằng mắt ở bất kỳ thời điểm nào, từ đó thể đưa ra những nhận định, phán đoán tùy theo góc độ, kiến thức, sự hiểu biết… của người quan sát về thông tin đó. 8 Trực quan hóa được phân thành nhiều nhánh để nghiên cứu và phát triển như: + Trực quan hóa khoa học; + Trực quan hóa thông tin; + Trực quan hóa giáo dục; + Trực quan hóa tri thức; + Trực quan hóa dữ liệu; + Trực quan hóa sản phẩm; + Phân tích trực quan; + Truyền thông trực quan; Để phân tích tình hình dân số thế giới hay cụ thể ở một quốc gia nào đó, một số nhà nghiên cứu đã sử dụng phương pháp trực quan hóa thông tin để biểu diễn.1, các nhà nghiên cứu đã mô tả dân số nước Mỹ năm 1999 thông qua bản đồ để phân tích và so sánh với tình hình dân số với các nước Canada và Áo [4].
Mô hình trực quan hóa thông tin biểu diễn dân số nước Mỹ năm 1999 Để trực quan hóa hồ sơ công việc hay sơ yếu lý lịch của nhân viên trong công ty, mô hình trực quan hóa dữ liệu được sử dụng để biểu diễn trực quan thông tin của nhân viên trong công ty như ở hình 2.2: Mô hình trực quan hóa dữ liệu để biểu diễn sơ yếu lý lịch1 Tác giả Charles Joseph Minard đã sử dụng mô hình phân tích trực quan để biểu diễn cuộc hành quân của Napoleon năm 1812 – 1813 khi rút quân ra khỏi Mowcow, hình 2.3 biểu diễn biến động số lượng quân của khi rút khỏi Mowcow theo thời gian.3: Bản đồ hành quân của Napoleon khi rút quân khỏi Mowcow (1812- 1813)2 1 Hình ảnh tham chiếu tại: https://venngage.com/blog/dos-donts-infographic-resumes/ 2 Hình ảnh tham chiếu tại: https://www. Trực quan hóa dữ liệu Trực quan hóa dữ liệu là một nhánh thuộc trực quan hóa, là một thuật ngữ mô tả cho việc biểu diễn trực quan dữ liệu nhằm giúp mọi người dễ hiểu bộ dữ liệu đó thông qua phương pháp trực quan. Qua mô hình trực quan hóa, mỗi người xem sẽ cho một đánh giá khác nhau tùy thuộc vào trình độ, chuyên môn của người xem. Hiện nay, có nhiều công cụ hỗ trợ trực quan hóa bộ dữ liệu mà nó vượt xa các biểu đồ, bảng biểu thống kê thông thường như bộ công cụ văn phòng của Microsoft: Word, Excel, các công cụ này cho phép biểu diễn và tra cứu thông tin, dữ liệu nhiều mức và nhiều chiều.
Dữ liệu được hiển thị một cách tinh vi sinh động trên infographics, bản đồ địa lý, biểu đồ thu nhỏ, bản đồ nhiệt và biểu đồ chi tiết, biểu đồ cột,…. Các hình ảnh, đối tượng được trực quan có khả năng tương tác với người dùng để thực hiện các thao tác truy vấn và phân tích. BẢN ĐỒ KHÔNG GIAN – THỜI GIAN Bản đồ không gian – thời gian là một hình khối không gian trên hệ tọa độ Đề-các ba chiều nhằm biểu diễn các đối tượng không gian, các đối tượng không gian - thời gian và các đường cong không gian – thời gian có thứ tự nhằm kết nối các đối tượng không gian lại với nhau, đây chính là đường biểu diễn sự dịch chuyển của các đối tượng không gian-thời gian. Trong khuôn khổ luận văn này, bản đồ không gian – thời gian chính là sự kết giữa mặt phẳng bản đồ của thành phố với trục thời gian được biểu diễn vuông góc với mặt phẳng bản đồ.
Các đối tượng không gian là các trạm dừng xe buýt và lộ trình mà các xe buýt đi qua các trạm được cố định trên mặt phẳng bản đồ; thời gian đến trạm của các xe buýt được biểu diễn trên trục thời gian. Điểm không gian – thời gian trên bản đồ không gian – thời gian là điểm được kết hợp giữa thời gian được tham chiếu từ trục thời gian t và vị trí khi chiếu vuông góc xuống mặt phẳng bản đồ chính là trạm dừng xe buýt. [5] [6] [7] [8] [9] [10] [11] Một tuyến xe buýt bắt đầu từ điểm xuất phát đến trạm cuối cùng phải đi qua các trạm dừng để đón và trả khách theo quy định. Một tuyến xe buýt được đặt tên bởi tên của điểm đầu và điểm cuối.
Trong một ngày, có nhiều hành trình xe buýt 11 chạy trên tuyến đó với các thời điểm khác nhau, mỗi hành trình được quy định thời gian xuất phát và thời gian sẽ đến các điểm dừng để đón và trả khách, các hành trình chạy trên một tuyến được đánh số thứ tự theo thời điểm xuất phát của nó.[1][2] Một hành trình xe buýt biểu diễn trên bản đồ không gian-thời gian là một đường cong không gian-thời gian nối các điểm không gian-thời gian theo thứ tự tăng dần, giá trị biểu diễn trên trục thời gian t chính là thời gian thực tế mà xe buýt đến trạm của hành trình đó, đường cong này khi chiếu lên mặt phẳng bản đồ ta thu được tuyến xe buýt tương ứng của hành trình.4: Biểu diễn sự di chuyển của xe buýt trên hình khối không gian-thời gian Trong hình 2.4, mặt phẳng (x, y) biểu diễn bản đồ thành phố, trục t biểu diễn thời gian; các trạm dừng xe buýt được đánh số trên mặt phẳng bản đồ có màu đỏ chính là các trạm dừng mà xe buýt phải đi qua, A là trạm xuất phát và B là trạm 12 dừng cuối cùng, các trạm dừng bố trí trên bản đồ được gọi là các điểm không gian; đường màu cam nối từ trạm xuất phát đi qua các trạm dừng và kết thúc tại trạm cuối gọi là một hành trình của xe buýt.