Luận án tiến sĩ xây dựng nội dung dạy ngoại khóa môn taekwondo nhằm phát triển thể chất cho học sinh trung học cơ sở thành phố hà nội

Luận án tiến sĩ kỹ thuật phân tích xây dựng nội dung dạy ngoại khóa môn taekwondo nhằm phát triển thể chất cho học sinh trung học cơ, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực

Chuyên ngành

Giáo Dục Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2018

257
16
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

Mục lục

Danh mục các biểu bảng, biểu đồ trong luận án

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Một số khái niệm cơ bản có liên quan

1.2. Đặc điểm Công tác Giáo dục thể chất ngoại khóa trong các trường Trung học cơ sở

1.1. Đặc điểm hoạt động thể thao ngoại khóa

1.3. Những yếu tố tự nhiên và xã hội ảnh hưởng tới sự phát triển thể chất của học sinh trung học cơ sở thành phố Hà Nội

1.4. Đặc điểm môn võ Taekwondo

1.2. Nền tảng cơ bản của môn võ Taekwondo

1.5. Đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở trong tập luyện Taekwondo

1.6. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1. Phương pháp nghiên cứu

2.2. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu tham khảo

2.3. Phương pháp quan sát sư phạm

2.4. Phương pháp phỏng vấn

2.5. Phương pháp kiểm tra sư phạm

2.6. Phương pháp kiểm tra y học

2.7. Phương pháp kiểm tra tâm lý

2.8. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

2.9. Phương pháp toán học thống kê

2.10. Tổ chức nghiên cứu

2.11. Đối tượng nghiên cứu

2.12. Phạm vi nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1. Đánh giá thực trạng công tác giáo dục dục thể chất và thực trạng hoạt động ngoại khóa của các câu lạc bộ võ Taekwondo dành cho học sinh các trường Trung học cơ sở thành phố Hà Nội

3.1. Thực trạng tập luyện thể thao ngoại khóa của học sinh các trường Trung học cơ sở thành phố Hà Nội

3.2. Thực trạng nhận thức của học sinh các trường Trung học cơ sở thành phố Hà Nội về vấn đề tập luyện thể thao ngoại khóa

3.2. Thực trạng công tác giáo dục thể chất cho học sinh các trường Trung học cơ sở thành phố Hà Nội

3.3. Lựa chọn các tiêu chí và test đánh giá thể chất của học sinh Trung học cơ sở thành phố Hà Nội

3.3. Tỷ lệ thành phần đối tượng phỏng vấn lựa chọn test đánh giá sự phát triển thể lực cho học sinh Trung học cơ sở thành phố Hà Nội

3.4. Thực trạng thể chất của học sinh Trung học cơ sở thành phố Hà Nội

3.5. Bàn luận kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 1

3.6. Nghiên cứu xây dựng nội dung dạy ngoại khóa môn Taekwondo nhằm phát triển thể chất của học sinh Trung học cơ sở thành phố Hà Nội

3.7. Lựa chọn nội dung giảng dạy ngoại khóa môn Taekwondo cho học sinh khối Trung học cơ sở thành phố Hà Nội

3.8. Xây dựng chương trình và phương pháp giảng dạy môn Taekwondo vào giờ ngoại khóa

3.9. Bàn luận kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 2

3.10. Ứng dụng và đánh giá hiệu quả của các nội dung dạy ngoại khóa môn Taekwondo đối với sự phát triển thể chất của học sinh Trung học cơ sở thành phố Hà Nội

3.11. Tổ chức thực nghiệm

3.12. Đánh giá hiệu quả thực nghiệm

3.13. Bàn luận kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

3.4. Nhịp tăng trưởng thể chất của học sinh nam khối 6 nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm sau 12 tháng thực nghiệm

3.5. Mức độ tăng trưởng thể chất của học sinh nữ khối 6 nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm sau 12 tháng thực nghiệm

3.6. Mức độ tăng trưởng thể chất của học sinh nam khối 7 nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm sau 12 tháng thực nghiệm

3.7. Mức độ tăng trưởng thể chất của học sinh nữ khối 7 nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm sau 12 tháng thực nghiệm

3.8. Mức độ tăng trưởng thể chất của học sinh nam khối 8 nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm sau 12 tháng thực nghiệm

3.9. Mức độ tăng trưởng thể chất của học sinh nữ khối 8 nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm sau 12 tháng thực nghiệm

3.10. Mức độ tăng trưởng thể chất của học sinh nam khối 9 nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm sau 12 tháng thực nghiệm

3.11. Mức độ tăng trưởng thể chất của học sinh nữ khối 9 nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm sau 12 tháng thực nghiệm

Kết luận

Kiến nghị

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là xác định và phát triển nội dung dạy ngoại khóa môn Taekwondo nhằm nâng cao thể chất cho học sinh trung học cơ sở tại Hà Nội. Nghiên cứu này không chỉ tập trung vào việc cải thiện thể lực mà còn góp phần vào sự phát triển toàn diện của học sinh. Theo đó, việc áp dụng môn võ Taekwondo trong giáo dục thể chất sẽ giúp học sinh rèn luyện sức khỏe, tăng cường sức đề kháng và phát triển các tố chất thể lực cần thiết. Đặc biệt, môn Taekwondo còn giúp học sinh hình thành ý thức kỷ luật, tinh thần tự giác và khả năng làm việc nhóm. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh, sức khỏe là tài sản quý giá của mỗi cá nhân và cũng là của cả xã hội. Việc đưa môn Taekwondo vào chương trình ngoại khóa sẽ tạo ra một môi trường học tập tích cực, khuyến khích học sinh tham gia vào các hoạt động thể chất, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong nhà trường.

II. Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu chính. Nhiệm vụ đầu tiên là đánh giá thực trạng công tác giáo dục thể chất và hoạt động ngoại khóa tại các trường trung học cơ sở ở Hà Nội. Nhiệm vụ này nhằm làm rõ những điểm mạnh, điểm yếu trong công tác giáo dục thể chất hiện tại, từ đó đưa ra những giải pháp cải thiện. Nhiệm vụ thứ hai là nghiên cứu và xây dựng nội dung dạy ngoại khóa môn Taekwondo, đảm bảo nội dung này phù hợp với nhu cầu và khả năng của học sinh. Cuối cùng, nhiệm vụ thứ ba là ứng dụng và đánh giá hiệu quả của các nội dung dạy học, nhằm xác định mức độ cải thiện thể chất của học sinh sau khi tham gia chương trình. Những nhiệm vụ này không chỉ có ý nghĩa lý thuyết mà còn có giá trị thực tiễn cao, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong các trường học.

III. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Luận án mang lại nhiều giá trị khoa học và thực tiễn quan trọng. Về mặt khoa học, nghiên cứu làm rõ các khái niệm liên quan đến giáo dục thể chất, phát triển thể chất và vai trò của thể thao ngoại khóa trong giáo dục. Nó cũng chỉ ra những yếu tố tự nhiên và xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất của học sinh trung học cơ sở. Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp một bộ tiêu chí và phương pháp đánh giá thể chất cho học sinh, từ đó giúp các nhà giáo dục có công cụ phù hợp để theo dõi và cải thiện thể lực của học sinh. Việc áp dụng nội dung dạy ngoại khóa môn Taekwondo không chỉ giúp nâng cao thể chất cho học sinh mà còn giáo dục các giá trị đạo đức, tinh thần thượng võ, và khả năng làm việc nhóm. Điều này phù hợp với xu hướng phát triển giáo dục toàn diện trong bối cảnh hiện nay.

IV. Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự cần thiết và hiệu quả của việc đưa môn Taekwondo vào chương trình ngoại khóa tại các trường trung học cơ sở. Qua thực nghiệm, chương trình đã chứng minh khả năng nâng cao thể lực và sức khỏe của học sinh. Các chỉ số thể chất như sức mạnh, độ dẻo dai và sức bền đều có sự cải thiện rõ rệt sau khi tham gia chương trình. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng việc tập luyện Taekwondo không chỉ giúp cải thiện thể chất mà còn tạo ra một môi trường học tập tích cực, giúp học sinh phát triển kỹ năng xã hội và tâm lý. Điều này phù hợp với mục tiêu giáo dục toàn diện mà Đảng và Nhà nước đã đề ra. Những kết quả này không chỉ có giá trị cho ngành giáo dục mà còn cho các bậc phụ huynh và toàn xã hội, khi mà sức khỏe và thể chất của thế hệ trẻ là một trong những yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững của đất nước.

20/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản có liên quan 1. Giáo dục thể chất Có rất nhiều quan điểm khác nhau khi đưa ra khái niệm về GDTC do tiếp xúc từ nhiều góc độ khác nhau. Có thể kể tới: Theo điều 20, Luật TDTT, GDTC là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện [84].P, GDTC là một quá trình giải quyết những nhiệm vụ giáo dục-giáo dưỡng nhất định mà đặc điểm của quá trình này là có tất cả các dấu hiệu chung của quá trình sư phạm vai trò chỉ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động tương ứng với các nguyên tắc sư phạm [75].

Theo Vũ Đức Thu, GDTC là quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc và kéo dài tuổi thọ [95]. Tác giả Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn thì cho rằng, GDTC là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người [112]. Theo Nghị định Số: 11/2015/NĐ-CP quy định về GDTC và hoạt động thể thao trong nhà trường: “GDTC trong nhà trường là nội dung giáo dục, môn học bắt buộc, thuộc chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo, nhằm trang bị cho trẻ em, học sinh, sinh viên các kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập thể dục, thể thao để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện”. [98] Đặc điểm nổi bật của GDTC là quá trình hình thành các kỹ năng, kỹ xảo vận động và phát triển các tố chất thể lực của con người như sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo, mềm dẻo.

Như vậy, GDTC là một hình thức giáo dục mà đặc điểm thể hiện ở việc giảng dạy các động tác (hành vi vận động) và giáo dục (điều khiển sự phát triển) các tố chất thể lực của con người.P cho rằng: Trong suốt quá trình GDTC “giảng dạy các động tác và giáo dục các tố chất thể lực luôn gắn bó chặt 7 chẽ với nhau, chúng có thể “chuyển” lẫn nhau nhưng không đồng nhất với nhau, và trong các giai đoạn giáo dục khác nhau lại có quan hệ khác nhau” [75]. Như vậy, GDTC bao gồm dạy học động tác và giáo dục các tố chất thể lực. Dạy học động tác là nội dung cơ bản của của quá trình giáo dưỡng thể chất. Đó là quá trình tiếp thu có hệ thống những cách thức điều khiển động tác, vốn kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho cuộc sống và những tri thức chuyên môn.

Còn giáo dục các tố chất thể lực là sự tác động hợp lý tới sự phát triển tố chất đảm bảo năng lực vận động. Trong hệ thống giáo dục, nội dung đặc trưng này của GDTC gắn liền với trí dục, đạo đức, mỹ dục và giáo dục lao động. Thể thao ngoại khóa Theo luật TDTT năm 2007, Hoạt động thể thao trong nhà trường (ở đây được hiểu là Thể thao ngoại khóa) là hoạt động tự nguyện của người học được tổ chức theo phương thức ngoại khoá phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao [84]. Theo Nghị định Số: 11/2015/NĐ-CP quy định về GDTC và hoạt động thể thao trong nhà trường: “Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của học sinh, sinh viên, được tổ chức theo phương thức ngoại khóa, câu lạc bộ thể dục, thể thao, nhóm, cá nhân phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe, nhằm hoàn thiện các kỹ năng vận động, hỗ trợ thực hiện mục tiêu giáo dục thể chất thông qua các hình thức luyện tập, thi đấu thể thao, tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao; phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, tài năng thể thao”.

[98] Thể thao ngoại khóa là hoạt động TDTT tự nguyện là chính, diễn ra theo hình thức tổ chức có người hướng dẫn hoặc tự tập, thường được tiến hành ngoài giờ học nội khóa, phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe của học sinh, sinh viên. Thể thao ngoại khóa có lịch sử gần 100 năm nay, cụ thể là vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, với mục đích tổ chức giao lưu trong giáo hội, các cộng đồng dân cư, giữa các trường chủ yếu ở các môn điền kinh, thể dục và các môn bóng. Giáo dưỡng thể chất Theo P. Lexgaphơtơ (1837 - 1909) nhà bác học Nga nổi tiếng, nhà sư phạm, nhà hoạt động xã hội, người sáng lập học thuyết về giáo dưỡng thể chất, bản chất của giáo dưỡg thể chất là làm sao để học: Tách riêng các cử động ra và so sánh chúng với nhau, điều khiển có ý thức các cử động đó và thích nghi với 8 các trở ngại, đồng thời khắc phục các trở ngại đó sao cho khéo léo và kiên trì nhất, nói một cách khác, rèn luyện để với sức lực ít nhất, trong một khoảng thời gian ngắn nhất có thể tiến hành có ý thức một hoạt động thể lực lớn nhất.

“Giáo dưỡng thể chất” chính là quá trình trang bị những kỹ năng kỹ xảo vận động cơ bản và quan trọng trong đời sống của con người, giúp con người hoạt động có hiệu quả cao và tốn ít năng lượng trong quá trình sống, tồn tại và phát triển. Trong TDTT đây là việc truyền thụ cho người tập kỹ thuật của các môn thể thao, cũng như vận dụng tốt những kỹ thuật đã tiếp thu được để củng cố nâng cao sức khoẻ duy trì và kéo dài tuổi thọ. Đối với VĐV việc tiếp thu tốt kỹ thuật các môn thể thao sẽ là điều kiện tiên quyết giúp họ thi đấu đạt thành tích thể thao cao trên các đấu trường trong khu vực và Quốc tế. Thể chất Thể chất là chất lượng cơ thể con người.

Đó là những đặc trưng tương đối ổn định về hình thái và chức năng của cơ thể được thay đổi và phát triển theo từng giai đoạn và các thời kỳ kế tiếp nhau theo quy luật sinh học. Thể chất được hình thành và phát triển do bẩm sinh di truyền và những điều kiện sống tác động (bao gồm cả giáo dục, rèn luyện). Phát triển thể chất Theo Nôvicốp A.P, “Phát triển thể chất của con nguời là quá trình biến đổi các tính chất hình thái và chức năng tự nhiên của cơ thể con người trong suốt cả cuộc sống cá nhân của nó” [75]. Cũng có quan điểm cho rằng: Phát triển thể chất là quá trình biến đổi và hình thành các tính chất tự nhiên về hình thái, chức năng cơ thể trong đời sống tự nhiên và xã hội.

Phát triển thể chất của mỗi người phụ thuộc vào những đặc điểm sinh học, điều kiện sống và giáo dục, môi trường tự nhiên và mỗi trường xã hội. Sự phát triển thể chất biểu hiện qua các chỉ số bên ngoài như: kích thuớc không gian và trọng luợng cơ thể, còn sự phát triển về chức năng thể hiện ở sự biến đổi các khả năng chức phận của cơ thể theo các thời kỳ và các giai đoạn phát triển theo lứa tuổi của nó, sự biến đổi này thể hiện qua các tố chất thể lực như: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo, khả năng phối hợp vận động.Sự biến đổi các khả năng hoạt động của hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, hệ thần kinh, tâm lý và ý chí.Sự phát triển thể chất tuân theo các quy luật tự nhiên, trong các quy luật đó có quy luật tác động lẫn nhau của các xu huớng phát triển di truyền và các xu hướng bị điều kiện sống tác động; quy luật xác định lẫn nhau của các biến đổi cấu trúc và chức năng; các thời kỳ theo lứa tuổi phát triển từ từ 9 và thay thế nhau (các thời kỳ phát triển nhanh đuợc thay thế bằng các thời kỳ ổn định tuơng đối về cấu trúc và chức năng, sau đó đến các thời kỳ biến đổi sút kém).; đồng thời, phát triển thể chất phụ thuộc vào các điều kiện sống của xã hội và hoạt động của con nguời(điều kiện phân phối và sử dụng sản phẩm vật chất, giáo dục, lao động, sinh hoạt v.) và do đó sự “phát triển thể chất của con nguời là do xã hội tác động và tác động ở mức độ quyết định” [18], [51], [75]. Tố chất thể lực Theo tác giả Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn, tố chất thể lực (hay tố chất vận động) là những đặc điểm, một phần tương đối riêng biệt trong thể lực của con người và thường được chia thành năm loại cơ bản: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khả năng phối hợp vận động và mềm dẻo (còn gọi là độ dẻo). Trong đó: Sức nhanh: “Sức nhanh là một tổ hợp những đặc điểm chức năng của con người xác định trực tiếp và chủ yếu tính chất nhanh của động tác, cũng như xác định thời gian của phản ứng vận động” [112].

Sức mạnh: “Là khả năng của con người chống lại lực cản hoặc khắc phục một lực cản nào đó nhờ sự nỗ lực của cơ bắp” hoặc “là khả năng sinh lực lớn của cơ bắp để thực hiện các hoạt động khác nhau trong cuộc sống” [20], [96], [112]. Sức bền: “Sức bền là năng lực thực hiện một hoạt động với cường độ cho trước, hay là năng lực duy trì khả năng vận động trong thời gian dài nhất mà cơ thể có thể chịu đựng” [112]. Hay “sức bền là khả năng của cơ thể chống lại mệt mỏi trong một hoạt động nào đó (là khả năng duy trì hoạt động khi mệt mỏi xuất hiện trong thời gian dài)”. Năng lực phối hợp vận động: Là một phức hợp các tiền đề của VĐV (cần thiết ít hoặc nhiều) để thực hiện thắng lợi một hoạt động thể thao nhất định.

Năng lực này được xác định trước hết thông qua các quá trình điều khiển (các quá trình thông tin) và được VĐV hình thành và phát triển trong tập luyện. Năng lực phối hợp vận động có quan hệ chặt chẽ với các phẩm chất tâm lý và năng lực khác như sức nhanh, sức mạnh, sức bền… và thường gồm 7 loại: Năng lực liên kết vận động, năng lực định hướng, năng lực thăng bằng, năng lực nhịp điệu, năng lực phản ứng, năng lực phân biệt vận động và năng lực thích ứng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Dạy ngoại khóa taekwondo nhằm nâng cao thể chất cho học sinh trung học cơ sở tại Hà Nội" của tác giả Nguyễn Ngọc Khôi, dưới sự hướng dẫn của Trần Tuấn Hiếu và Phan Hồng Minh, được thực hiện tại Trường Đại Học Thể Dục Thể Thao Bắc Ninh vào năm 2018. Bài nghiên cứu này tập trung vào việc áp dụng các phương pháp dạy taekwondo như một hoạt động ngoại khóa để cải thiện sức khỏe và thể chất cho học sinh trung học cơ sở. Luận án không chỉ chỉ ra những lợi ích của việc tham gia vào các hoạt động thể chất mà còn đề xuất các phương pháp giảng dạy hiệu quả, từ đó nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của thể dục thể thao trong giáo dục.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác của sức khỏe học sinh, hãy tham khảo bài viết Thực trạng sức khỏe tâm thần và một số yếu tố liên quan của học sinh một trường trung học phổ thông tại thành phố Nam Định tỉnh Nam Định năm 2021, nơi khám phá tình hình sức khỏe tâm thần của học sinh. Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Năng lực hợp tác giải quyết vấn đề của học sinh trung học cơ sở: Nghiên cứu và phân tích, nhằm hiểu rõ hơn về khả năng hợp tác và giải quyết vấn đề của học sinh. Cuối cùng, bài viết Nguy cơ sử dụng ma túy ở học sinh trung học phổ thông: Thực trạng và giải pháp sẽ cung cấp cái nhìn về những thách thức mà học sinh hiện nay đang phải đối mặt. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về sức khỏe và giáo dục học sinh.