Chương 1: Phan Việt trong đời sống văn chương Việt Nam đương đại Chương 2: Cái cô đơn và thế giới nhân vật trong hai tác phẩm “Tiếng Người” và “Một mình ở châu Âu” Chương 3: Phương thức biểu hiện nỗi cô đơn của con người trong “Tiếng người” và “Một mình ở châu Âu” của nhà văn Phan Việt 11 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: PHAN VIỆT TRONG ĐỜI SỐNG VĂN CHƢƠNG ĐƢƠNG ĐẠI 1.1Nỗi cô đơn với tƣ cách một chủ đề trong văn học 1.1 Khái niệm cô đơn Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt do tác giả Hoàng Phê làm chủ biên, thuật ngữ cô đơn được định nghĩa là “chỉ có một mình, không có người thân, không nơi nương tựa (cảnh cô đơn, con người cô đơn)” [13; tr202]. Như thế, cô đơn là một mình, sống đơn độc không có ai bên cạnh, tách biệt hoàn toàn với thế giới tồn tại xung quanh mình, không chịu những tác động của xã hội hay những yếu tố ngoại cảnh nào. Trong cuốn Dẫn giải ý tưởng văn chương của Henri BeNac, thuật ngữ cô đơn dùng để chỉ “hoặc là một nơi hiu quạnh, hoặc những tác động của nơi ấy. Nghĩa là trạng thái của con người sống một mình hay của người cảm thấy duy chỉ có một mình với chính mình trong khung cảnh nào đó người ấy thấy mình ở đấy (Khung cảnh thiên nhiên, căn buồng, xã hội của những con người)”[11,tr796].
Diễn giải nội hàm khái niệm cô đơn trên có thể thấy, khái niệm cô đơn mang trong nó biên độ tương đối rộng. Nó mang tính bao quát nhiều chiều trong những khoảng không - thời gian khác nhau, hoàn cảnh khác nhau. Con người có thể gặp phải hoàn cảnh cô đơn khi sống một mình, khi ở nơi hiu quanh, dưới những tác động từ ngoại cảnh vào thế giới nội cảm của con người, gần với cách nói của đại thi hào Nguyễn Du “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” khi ấy con người dễ gặp phải những nỗi cô đơn, buồn chán. Cái cô đơn tồn tại trong con người là bởi vì họ cảm thấy quá nhỏ bé trước thiên nhiên, quá ư chật chội, bế tắc, tù túng quẩn quanh trong căn buồng nhỏ, hoặc trước sự hỗn độn, biến động với những xoay vần chóng vánh của xã hội mà con người không thể hài hòa, tương thích và bắt kịp…Tất cả những điều 12 kiện hoàn cảnh này đều khiến con người cảm thấy cô đơn, hoang mang, và càng hoang mang thì mức độ biểu hiện cái cô đơn của con người càng lớn.
Cô đơn được xem là một trạng thái tồn tại sẵn có trong mỗi con người - đó là một nỗi cô đơn bản thể. Cũng như những trạng thái cảm xúc khác của con người như: hỉ, nộ, ái, ố… Cô đơn cũng như một trạng thái tâm lý mang trong mình những đặc trưng, giá trị riêng có, để khu biệt giữa cô đơn với những trạng thái khác. Trong mục từ cô đơn, thứ nhất Henri Banac đã chỉ ra hai đặc trưng cơ bản của sự cô đơn, đó là “sự cô đơn về thể xác gây nên” [11.tr797] và “sự cô đơn về tinh thần”[11;tr797]. Thứ hai, ông cũng chỉ ra hai giá trị về sự cô đơn: giá trị thứ nhất đó là““sự êm dịu bí ẩn”, bởi vì cô đơn tạo ra”: Sự nghỉ ngơi cách xa sự náo động của con người; sự an toàn và cách xa những tác hại của xã hội; sự thanh thản - để suy ngẫm về bản thân mình, để hiểu rõ hơn về mình, để tự vấn, để thoát khỏi những hiểm nguy của thế giới loài người, thực hiện đời sống tinh thần, tu luyện khổ hạnh, để lao động sáng tạo, thoát khỏi sự mất thời gian vô ích trong xã hội; để nghĩ đến những người mình yêu quý; để sống một cách tự do, hưởng thụ mình, để ngủ, để hưởng thụ những giây phút mơ màng, dạo chơi, ngắm cảnh thiên nhiên; để trốn tránh xa những dục vọng, hay để yêu mà không bị gây phiền phức, cũng chẳng ngại sự ghen tuông” [11;tr797].
Như thế, cô đơn là một cách thức để con người thoát ra khỏi “những tác hại của xã hội” để tìm đến với cuộc sống an nhiên, tự tại, hưởng thụ sự thư thái, bình yên, hạnh phúc; hơn thế nhờ cô đơn con người mới có thể tĩnh tâm để nhìn thấu và hiểu rõ nhất “cái bản ngã” bên trong con người mình. Đó chính là mặt tích cực của nỗi cô đơn. Đặc biệt, giá trị của sự cô đơn còn là “sự nảy nở mạnh mẽ: của tinh thần được giải thoát khỏi mọi lo lắng, mọi ràng buộc”[11;tr799]. Giải thoát mọi thứ là một cách để tách mình ra, dùng sự cách biệt để có được một độ lùi nhất định, con người mới “có thể đoán xét một cách dửng dưng hoặc với một 13 khoảng lùi thời gian để nhìn đúng sự việc, suy ngẫm và sáng tạo”[11;tr799].
Nghĩa là nhờ cô đơn, con người không chỉ nhìn lại được chính mình, nhìn nhận một cách khách quan sự vật, hiện tượng, mà nó còn là yếu tố cần thiết đảm bảo cho sự sáng tạo được duy trì và phát triển liên tục. Ở một giá trị khác nữa của “sự êm dịu bí ẩn” còn là “sự nảy nở mạnh mẽ: của cảm xúc: sự phấn khích, sự khoái cảm của trạng thái đơn chiếc, biệt lập, hay nỗi kinh hoàng vì chỉ có một mình; ý chí muốn sống theo chỉ bảo của trái tim; sự mông lung của những đam mê; mơ màng yêu đương; sự kết tinh tình cảm về tự nhiên, tình cảm thần bí, tôn giáo”[11;tr799]. Cuối cùng là “sự nảy nở mạnh mẽ của cái tôi: sự giải phóng khỏi những khuôn sáo truyền thống, khỏi địa ngục của những người khác, sự ích kỉ, khám phá mình”[11;tr799]. Rõ ràng ta thấy, cô đơn đem đến những giá trị quan trọng và cần thiết cho đời sống của con người, mà bất cứ ai, đều muốn tìm cho mình một sự cô đơn nhất định để hưởng thụ những giá trị nội tại mà cô đơn đem đến.
Song, đi kèm với sự êm dịu bí ẩn - bởi cô đơn tạo ra, giống như một thứ thuốc có khả năng “gây tê” giúp cho con người nhanh chóng quên đi trạng thái về sự đau khổ thì ở mặt bên kia là “những nguy cơ của sự cô đơn xuất hiện khi con người ta phải chịu sự cô đơn và khi sự cô đơn không được người ta tìm kiếm hay khi một tâm hồn còn chưa “đủ lớn, đủ mạnh” mà lại muốn nếm trải sự cô đơn” [11;tr800]. Có nghĩa là, nếu cô đơn được coi là một đức hạnh, mang đến cho con người con người những cảm giác như sự êm dịu, sự giải thoát, sự thanh thản, sự nghỉ ngơi…thì ngược trở lại, để được cô đơn và nếu muốn được nếm trải, tận hưởng bầu không khí cô đơn ấy thì đòi hỏi con người phải có một bản lĩnh nhất định, phải “đủ lớn” và “đủ mạnh”, đạt đến một trình độ nhất định mà ở đó hội tụ đầy đủ những yếu tố cần và đủ để tạo ra sự cô đơn cho mình. Nói như thế có nghĩa chính cái cô đơn đã giúp nuôi dưỡng năng lực về mặt đức hạnh, về mặt tinh thần, năng lực sống cá nhân và sự trưởng thành về mọi phương diện của con người. Cô đơn rõ ràng mang giá 14 trị như một thứ tài sản của con người.
Mặt khác, con người mặc dù không muốn sự cô đơn nhưng người ta vẫn phải tìm kiếm sự cô đơn hoặc bị cô đơn, trường hợp đó xảy ra với những kẻ yếu đuối, quen sống dựa dẫm vào cộng đồng, tập thể mà họ bắt buộc bị cô đơn thì khi đó cô đơn có thể gây ra những mặt tiêu cực mà ở mặt thứ nhất đó chính là “sự buồn chán”[11;tr800]; mặt thứ hai là “trạng thái bị bỏ rơi, đơn chiếc khiến cho tâm hồn hoảng sợ vì người ta không còn được tiếp xúc với hơi ấm của con người”[11;tr800]; mặt thứ ba là “một tâm trạng không thích ứng vì phải sống với người khác”[11;tr800]; mặt thứ tư là “một sự phấn khích thiếu lành mạnh: sự kiêu ngạo, lấy mình làm trung tâm, điên cuồng quấy rối; những ảo tưởng, những ý tưởng sai trái, sống trong mộng ảo”[11;tr800]. Cuối cùng là “một nỗi kinh hoàng khi phải quan sát thân phận siêu hình của mình. Đối với nghệ sĩ, cho mình là trung tâm, nghèo nàn về cảm hứng, thiếu thốn cái mà xã hội mang đến, vì thế nghệ sĩ cần thoát khỏi sự cô đơn hoàn toàn, hoặc bằng cách xuất phát cùng với tâm hồn đồng cảm”[11;tr800]. Điều này chỉ ra, ở một khía cạnh khác của cô đơn đó là: trong sự tích cực của cô đơn, nó vẫn bao hàm và ẩn chứa những “mầm mống” gây ra sự chán nản, trái chiều, bất lợi và dẫn đến những bi kịch cho con người như sự bất hòa, sự không tương thích với người khác, với một đời sống trong thế giới khác.
Đặc biệt cô đơn là một thiết yếu cho sáng tạo, đối với người nghệ sỹ, cô đơn là mạch nguồn khơi gợi cảm hứng sáng tạo đến bất tận, nhưng để đạt được điều đó, người nghệ sĩ cần thoát ra hoàn toàn cái cô đơn mang nghĩa tiêu cực và con đường tốt nhất đó chính là rời xa lối sống và suy nghĩ tập thể, cộng đồng, tìm đến những tâm hồn đồng điệu, những trái tim đồng cảm giao hòa làm một như thế cô đơn mới trở thành “một yếu tính cho sáng tạo”.2 Chủ đề cô đơn trong văn học Việt Nam đương đại Chủ đề là "vấn đề chủ yếu, vấn đề trung tâm được đặt ra từ toàn bộ hiện thực mà tác phẩm thể hiện"[10;tr119]. Nó có vai trò quan trọng thể hiện 15 "bản sắc tư duy, chiều sâu tư tưởng khả năng thâm nhập vào bản chất đời sống của nhà văn" [10;tr119]. Như thế, chủ đề chính là nơi kết tinh ý tưởng sáng tạo của nhà văn, thông qua chủ đề được tác giả đề cập người đọc sẽ nhìn nhận đúng giá trị phản ánh của tác phẩm. Trong văn học Việt Nam, có nhiều chủ đề cho các nhà văn lựa chọn và khai thác, trong đó cô đơn là một đề tài phổ biến trong văn học Đông Tây, kim cổ và đã chiếm được sự quan tâm của đông đảo nhà văn các giới và nhiều thế hệ.
Trải qua một chặng đường dài với những bước thăng trầm, kể cả bước lùi, chủ đề cô đơn trong văn học Việt Nam vẫn luôn trở thành một chủ đề quen thuộc mang giá trị nhân văn độc đáo. Có thể thấy, từ chủ nghĩa lãng mạn trở đi của văn học Phương Tây, vấn đề cô đơn của con người đã được đề cập một cách tương đối rõ nét. Cô đơn được xem như một phẩm chất đáng quý của con người. Với văn học Phương Tây cô đơn được coi là một đức hạnh.