Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC HÌNH THỨC NÔ LỆ HIỆN ĐẠI 1. Chế độ nô lệ 1. Nguồn gốc và lịch sử của chế độ nô lệ Chế độ nô lệ ra đời và tồn tại cùng với sự phát triển của văn minh nhân loại. Thời nguyên thủy, con người tự săn bắt hái lượm để cung cấp lương thực cho chính mình.
Ở đó hoàn toàn không có việc sở hữu tài sản, càng không có việc sở hữu người khác. Cho tới thời kỳ đồ đá mới và nhất là sau khi phát hiện ra sắt, con người bắt đầu tập hợp nhau lại, cùng sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp, tạo ra của cải dư thừa, chế độ tư hữu xuất hiện, nhu cầu về lao động từ đó cũng tăng lên. Những người nghèo, không có tài sản riêng phải đi làm thuê cho những người giàu có hơn. Bên cạnh đó, với mong muốn mở rộng đất đai, các cuộc chinh phạt bắt đầu diễn ra.
Tù binh trong các cuộc chiến tranh bị đưa về và trở thành lao động. Nền văn minh đầu tiên mà chúng ta biết đến vai trò đáng kể của người nô lệ đó là Hy Lạp cổ đại. Cả hai thành bang cổ của Hy Lạp là Sparta và Athens đều phụ thuộc hoàn toàn vào cưỡng bức lao động mặc dù Sparta được mô tả như chế độ nông nô hơn là chế độ nô lệ. Những người dân Sparta là những người bị chinh phục.
Họ vẫn sống và làm việc trên đất đai mà trước đó thuộc sở hữu của họ nhưng nay đã bị cướp mất và bản thân họ vẫn có một số quyền. Những nô lệ Athens thì ngược lại, họ không có bất cứ quyền gì cả. Họ phải làm đường, làm việc trong các hầm mỏ với rủi ro cao. Các nô lệ là đầy tớ giúp việc trong gia đình thì có điều kiện làm việc an toàn hơn và một số ít trong số họ có mối quan hệ tương đối gần gũi với chủ.
Tại La Mã cổ đại, khoảng hai thế kỷ cuối trước Công nguyên, nô lệ đã 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được sử dụng rộng rãi và bị đối xử rất tàn bạo. Tại đây, họ không chỉ làm việc trong các hầm mỏ và bị đánh đập bởi các đốc công mà còn trở thành trò giải trí mua vui cho chủ bằng cách trở thành các đấu sĩ hay các nô lệ tình dục. Chính sự tàn bạo đó là nguồn gốc của một số cuộc nổi dậy của nô lệ La Mã mà nổi tiếng nhất có thể kể đến là cuộc nổi dậy của Spartacus. Sau sự sụp đổ của đế chế La Mã, Châu Âu bước vào thời kỳ Trung cổ.
Ở Tây Âu, chế độ nô lệ dần mất đi và được thay thế bởi chế độ nông nô của các thái ấp phong kiến. Tuy nhiên ở các khu vực khác nó vẫn tồn tại và có xu hướng gia tăng thêm. Trong quá trình mở rộng về phía Đông của người Đức vào thế kỷ X, rất nhiều người Xla-vơ bị bắt và trở thành nô lệ. Cũng vào thời gian này, việc cung cấp nô lệ cho khu vực biển Đen trở thành một phần quan trọng của nền kinh tế Nga.
Chế độ nô lệ cũng vẫn được duy trì ở các quốc gia xung quanh Địa Trung Hải. Với vị trí địa lý thuận lợi, buôn bán nô lệ đã trở thành một ngành kinh tế phát triển ở khu vực này. Vào thế kỷ VIII, các quốc gia Ả Rập dọc bờ Nam Địa Trung Hải đã mở rộng việc buôn bán nô lệ châu Phi. Họ bị bắt ở khu vực xung quanh hồ Chad và bị bán cho các hộ gia đình người Ả Rập trải dài từ Tây Ban Nha tới Ba Tư.
Vào thế kỷ XV, các cuộc thám hiểm của người Bồ Đào Nha đã đưa các con tàu châu Âu đến gần hơn với vùng cận Sahara. Khu vực này từ lâu đã là nơi cung cấp nô lệ đến Địa Trung Hải bằng các tuyến đường bộ qua sa mạc. Nay, việc vận chuyển bằng đường biển sẽ trở nên nhanh chóng hơn và sẽ hạn chế được các cuộc chạy trốn. Trên bờ biển Ghi-nê, người Bồ Đào Nha thiết lập các trạm kinh doanh người da đen.
Một số nô lệ được sử dụng để làm việc trong các đồn điền bông và tràm hay trong các nhà máy dệt ngay tại địa phương. Những người khác được gửi lên phía Bắc để bán ở Madeira, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha. Người Bồ Đào Nha cũng bắt đầu vận chuyển nô lệ sang thuộc địa của mình ở Châu Mỹ để làm việc trong các đồn điền mía, bông, 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Thời gian sau đó, tiếp bước Bồ Đào Nha, các nước khác như Tây Ban Nha, Anh, Hà Lan.
cũng bắt đầu việc buôn bán nô lệ và đưa nô lệ tới làm việc ở thuộc địa. Cuộc đấu tranh chống lại chế độ nô lệ đáng kể nhất chính là Nội chiến Hoa Kỳ diễn ra từ năm 1861 đến 1865, giữa Chính phủ Liên bang và các tiểu bang phía nam. Sau khi Abraham Lincoln đắc cử trong cuộc bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ năm 1860, 11 tiểu bang theo chế độ nô lệ ở miền Nam Hoa Kỳ đã tuyên bố ly khai khỏi Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ và lập ra Liên minh miền Nam trong khi 25 tiểu bang còn lại ủng hộ chính phủ Liên bang miền Bắc. Cuộc phân tranh Nam-Bắc – chủ yếu diễn ra tại các tiểu bang phía Nam – kéo dài 4 năm và chấm dứt khi quân miền Nam đầu hàng năm 1865 và chế độ nô lệ bị đặt ra ngoài vòng pháp luật trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ.
Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ (Emancipation Proclamation) do Tổng thống Abraham Lincoln ban hành trong nội chiến, được công bố ngày 22 tháng 9 năm 1862, và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1863, tuyên bố giải phóng nô lệ trong 10 tiểu bang ngoài vòng kiểm soát của Liên bang, với sự miễn trừ dành cho những khu vực trong hai tiểu bang thuộc Liên bang. Quân đội Liên bang càng tiến sâu về phía Nam càng có nhiều nô lệ được tự do cho đến khi hơn ba triệu nô lệ trong lãnh thổ Liên bang được giải phóng. Lincoln nhận xét về bản Tuyên ngôn: “Chưa bao giờ trong đời tôi tin những gì tôi đang làm là đúng như khi tôi ký văn kiện này. Bản tuyên ngôn không là một điều luật được thông qua bởi quốc hội, nhưng là một mệnh lệnh của tổng thống đã được trao quyền bởi địa vị của ông là "Tổng tư lệnh quân đội" dưới khoản II, chương 2 của Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
Tuy tuyên ngôn không trả tự do cho bất kỳ nô lệ nào trong các bang biên giới (Kentucky, Missouri, Maryland, Delaware, và Tây Virginia), hoặc bất kỳ bang phía nam nào điều hành bởi chính phủ miền Nam. Nhưng khi quân đội miền 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bắc chiến thắng miền Nam, hàng nghìn nô lệ được trả tự do mỗi ngày cho đến khi gần như hoàn toàn vào tháng 7 năm 1865. Khái niệm ”Nô lệ” Theo định nghĩa của Từ điển Oxford, Nô lệ là: - Một người bị sở hữu bởi người khác và buộc phải tuân thủ mệnh lệnh của người đó; - Một người phải làm việc nặng nhọc mà không được trả công hoặc bù đắp xứng đáng; - Một người bị phụ thuộc hoặc bị kiểm soát bởi cái gì đó. Nhiều tổ chức quốc tế hoạt động trong lĩnh vực xóa bỏ chế độ nô lệ và các hình thức nô lệ hiện đại, cũng chia sẻ những quan niệm chung về nô lệ và chế độ nô lệ được định nghĩa trong các văn kiện pháp lý quốc tế có liên quan, bao gồm các Công ước của Liên hợp quốc.
Chẳng hạn như LiberityAsia, đã đưa ra quan niệm về chế độ nô lệ như sau: “Nô lệ xảy ra khi một người bị lừa, bán hoặc bị cưỡng ép vào tình cảnh liên quan đến công việc và bị bóc lột nặng nề, được trả công rất ít hoặc không được trả công, hoặc có rất ít lựa chọn để trốn thoát do bị mắc nợ hoặc bị đe doạ dùng vũ lực.”[27] Trong pháp luật quốc tế, theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Công ước về nô lệ 1926 (được Hội Quốc Liên thông qua ngày 25/9/1926, có hiệu lực từ 09/3/1927) thì: ”Nô lệ là địa vị hay tình trạng của một người mà bất kỳ hoặc mọi quyền lực gắn liền với quyền sở hữu đều được thực hiện đối với họ”. Theo Điều 7 Công ước bổ sung về xóa bỏ chế độ nô lệ, buôn bán nô lệ, các thể chế và tập tục khác tương tự chế độ nô lệ 1956 (được thông qua ngày 07/9/1956, có hiệu lực từ 30/4/1975) thì định nghĩa như khoản 1 Điều 1 Công ước về nô lệ 1926 là để chỉ ”chế độ nô lệ”, còn nô lệ là ”một người ở vào tình trạng hay địa vị như vậy”. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ những quy định trên có thể thấy rằng Nô lệ là một tình trạng hay một người bị gắn với quyền sở hữu. Người nô lệ sẽ bị buộc phải làm việc cho chủ mà không được trả lương, bị tước tự do và không được bảo đảm các quyền con người thậm chí cả những nhu cầu cơ bản nhất như thức ăn, quần áo, chỗ ở họ cũng không được đảm bảo.
Trong những xã hội tồn tại sự kỳ thị nghiêm trọng nhất, nô lệ chỉ được coi như ”vật”, một thứ tài sản có thể trao đổi, mua bán như đồ đạc, công cụ hay súc vật.