chương 1 cũng nêu ra ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. Cuối cùng là phan cau trúc của dé tài nghiên cứu CHUONG 2 CO SO LY THUYET CUA DE TAI NGHIEN CUU 2.1 Thanh khoản của ngân hàng thương mại 2.1 Các khái niệm liên quan đến thanh khoản Có rất nhiều khái niệm khác nhau về thuật ngữ “thanh khoản”. Theo Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS, 2000) định nghĩa “Khả năng thanh khoản hay khả năng đáp ứng nguồn vốn cho sự tăng lên của tài sản có và thanh toán các khoản nợ khi đến hạn”. Theo Nguyễn Văn Tiến (2010) thì thanh khoản là khả năng ngân hàng đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như chỉ trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các giao dịch tài chính khác.
Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2008) (Basel Committee on Bank Supervision, 2008) cho rằng “thanh khoản là một thuật ngữ chuyên ngành cho thấy khả năng mà ngân hàng có thê tài trợ việc gia tăng của tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà không gây ra những khoản tôn thất không thê chấp nhận được”. Đây là yếu tố cực kỳ quan trọng trong việc thể hiện khả năng hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng như đối với sự tồn tại của hầu hết các ngân hàng. Từ những khái niệm trên, về cơ bản, thanh khoản có thể được hiểu như sau: Xét trong ngắn hạn, thanh khoản là khả năng mà ngân hàng có thể thực hiện thanh toán ngay tại thời điểm nghĩa vụ phát sinh. Trong dài hạn, thanh khoản cho thấy khả năng vay đủ vốn dài hạn cùng với lãi suất hợp lý nhằm đảm bảo khả năng thanh toán dài hạn và hỗ trợ việc tăng tài sản.
Vậy nhìn chung, thanh khoản thể hiện “khả năng thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn đến mức tối đa và bằng don vi tién tệ được quy định” (Duttweiler, 2011). Theo ông, do thực hiện bằng tiền mặt, thanh khoản chỉ liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ. Việc không thê thực hiện nghĩa vụ thanh toán sẽ dẫn đến tình trạng thiếu khả năng thanh khoản”. Có thê thấy, nếu tài sản của ngân hàng không thê chuyển thành tiền mặt khi cần để đáp ứng việc chi trả các khoản tiền gửi, chuyển tiền, cho vay, thanh toán, giao dịch vốn và các nghĩa vụ phát sinh sẽ rất dễ rơi vào tình trạng vỡ nợ, về lâu dài sẽ dễ dẫn đến nguy cơ phá sản của ngân hàng.
Việc quản trị thanh khoản trong ngân hàng bao gồm việc đảm bảo có đủ tiền mặt và có thê vay tiền với chỉ phí hợp lý nhằm đáp ứng đủ nhu cầu tiền mặt mỗi khi có phát sinh. Hai hoạt động sử dụng vốn thông thường nhất của ngân hàng là đáp ứng yêu cầu rút tiền gửi và nhu cầu vay vốn của khách hàng. Ngân hàng có thê đáp ứng yêu cầu vay vốn bằng cách bán tài sản (Tài sản thanh khoản) hay vay từ thị trường tién té (Peter S. Rose, 2001) Đảm bảo khả năng thanh khoản là một trong những hoạt động rất quan trọng đối với các ngân hàng thương mại.
Tầm ảnh hưởng của khả năng thanh khoản thực chất vượt xa khỏi phạm vi kiểm soát của ngân hàng đơn lẻ vì khi một ngân hàng bị suy giảm khả năng thanh khoản sẽ gây ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống ngân hàng nói riêng và hoạt động của nền kinh tế trong xã hội nói chung. Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm nắm rõ bản chất cũng như xác định, đo lường các yếu tố gây ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng sẽ giúp quản lý cũng như kiểm soát hoạt động ngân hàng tốt hơn, giúp các ngân hàng giảm thiểu những ton thất nghiêm trọng.2 Nguồn thanh khoản và trạng thái thanh khoản Khi khách hàng có nhu cầu rút tiền hoặc ngân hàng phải thực hiện các nghĩa vụ như đã cam kết với khách hàng sẽ dẫn đến phát sinh vẫn đề thanh khoản. Trong trường hợp này, ngân hàng không những cần đảm bảo việc cân đối nhu cầu rút tiền với lượng tiền hiện có, mà phải tính đến các khả năng để có thể huy động vốn tiếp theo. Do đó, khi thực hiện việc đánh giá thanh khoản của ngân hàng cần phải có góc nhìn ở dạng trạng thái động, nghĩa là cần xem xét về quan hệ cung - cầu vốn khả dụng của ngân hàng tại từng giai đoạn nhất định.1 Cung thanh khoản (dòng tiền vào) Theo Peter S.
Rose (2001) thì trong lĩnh vực ngân hàng, cung thanh khoản được hiểu là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng, gồm các khoản vốn đảm bảo khả năng chỉ trả của ngân hàng khi có vẫn đề phát sinh. Thông thường, dé tăng nguồn cung thanh khoản, ngân hàng sẽ tiến hành thông qua các cách sau: " Day manh viéc gia tăng các khoản tiền gửi từ khách hàng Các khoản tiền ký thác được xem là nguồn cung thanh khoản chủ yếu của ngân hàng. Bên cạnh đó, ngân hàng có thể thực hiện các biện pháp như việc điều chỉnh lãi suất huy động, cung cấp các dịch vụ hấp dẫn thông qua các chương trình khuyến mại, các gói ưu đãi hấp dẫn, hoặc mang đến cho khách hàng sự hài lòng về phong cách phục vụ của ngân hàng. nhằm đây mạnh khối lượng giao dịch tại ngân hàng.
Qua đó, nguồn cung thanh khoản của ngân hàng cũng gia tăng. Nguồn thu từ các khoản phí dịch vụ Phí chuyên khoản nội bộ, chuyền tiền liên ngân hàng, phí dich vụ thường niên, phí dịch vụ mở L/C, phí bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ. là các khoản thu giúp ngân hàng tăng cung thanh khoản. " Những khoản tín dụng hoàn trả Các khoản tín dụng được thanh toán đầy đủ sẽ giúp ngân hàng bảo toàn được nguồn vốn.
Việc thu các khoản tín dụng đúng hạn không những hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng được đảm bảo mà còn là nguồn cung thanh khoản chính cho ngân hàng. "- Đj vay từ thị trường tiền tệ Nhằm tăng nguồn cung thanh khoản, ngân hàng có thể tiến hành việc vay mượn từ các NHTM khác hoặc NHTW. Trong trường hợp ngân hàng phải đối mặt với tình trạng khủng hoảng thanh khoản thì việc vay từ thị trường liên ngân hàng là giải pháp thiết yếu để có thể giải quyết khó khăn thanh khoản một cách nhanh nhất. "_ Nguôn thu từ việc bán tài sản Ngân hàng có thê thực hiện việc bán các tài sản sở hữu để chuyển đổi thành tiền mặt khi có nhu cầu về việc tăng cung thanh khoản.
Các tài sản chủ yếu của ngân hàng có tính thanh khoản bao gồm:trái phiếu, tín phiếu kho bạc,.Ngoài ra còn có các cổ phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu của các ngân hàng và các công ty có hệ số tín nhiệm cao. 10 "_ Phát hành cô phiếu ra thị trường Ngân hàng có thê tăng nguồn cung thanh khoản thông qua việc phát hành các cỗ phiếu ra thị trường. Tuy vậy, việc phát hành cô phiếu thường được thực hiện chủ yếu cho mục đích mở rộng quy mô, cơ cấu lại thị phan, nguồn vốn chủ sở hữu, ít khi nhằm mục tiêu tăng thanh khoản cho ngân hàng.2 Cầu thanh khoản (dòng tiền ra) Peter S. Rose (2001) cho rằng cầu thanh khoản được hiểu là nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng tại các thời điểm khác nhau.
Cầu về thanh khoản thường bao gồm: " Các khoản cấp tin dung Nghiệp vụ cấp tín dụng có thể được xem là nghiệp vụ chủ chốt của ngân hàng khi sử dụng các khoản vốn huy động được và cho khách hàng vay. Nhu cầu vay từ khách hàng gây ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn cầu thanh khoản của ngân hàng. Lãi suất cho vay của ngân hàng, kế hoạch đầu tư của khách hàng, các quy định, thủ tục về điều kiện vay vốn,.là một trong các yếu tố gây tác động đến nhu cầu vay vốn của khách hàng. " Khoản trả tiền gửi cho khách hàng Khách hàng có thể có nhu cầu rút tiền thường xuyên và bất kỳ lúc nào.
Các khoản tiền đó bao gồm: các khoản tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi thanh toán và các khoản khách hàng có thể rút trước hạn. Ngân hàng cần đặc biệt lưu ý là đối với các khoản tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi thanh toán phải luôn đảm bảo khoản dự trữ đề luôn đáp ứng kịp thời nhu cầu chỉ trả và thanh toán. Các khoản phải trả khác( Chi phí điều hành, quản lý cùng với các khoản phí dich vu phat sinh, .) Đây là các khoản chỉ phí thuộc về nội bộ của ngân hàng như các khoàn chỉ lương, thưởng, công tác phí, chỉ tiền mua công cụ, dụng cụ, phần mềm nhằm phục vụ cho quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Bên cạnh đó còn có các chi phí sử dụng 11 dịch vụ của các đơn vị khác như tiền nước, tiền điện, tiền thuê văn phòng, tiền quảng cáo,.
"_ Các khoản chỉ trả lãi vay Là các khoản chỉ phí trả lãi cho việc huy động, trả lãi cho việc phát hành các giấy tờ có giá mà ngân hàng đã thực hiện trước đây. =" Thanh toan các khoản vay Nếu ngân hàng có phát sinh các khoản đi vay từ các cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng khác hoặc ngân hàng Nhà nước thì ngân hàng cần phải hoàn trả các khoản vay đó khi đến hạn. "_ Thanh toán cô tức cho các cổ đông Là các khoản chỉ cỗ tức bằng tiền của ngân hàng cho các cổ đông nắm giữ các loại cổ phiếu do ngân hàng phát hành. = Mua lai cé phiéu Đây là các khoản chỉ để thực hiện việc mua lại cô phiếu mà ngân hàng đã phát hành, mua cô phiếu quỹ nhằm tăng giá cô phiếu, tăng thu nhập trên mỗi cô phiếu hoặc dùng cô phiếu dé chỉ trả cô tức, dé thưởng cho nhân viên.3 Trạng thái thanh khoản Từ nội dung trên, có thê thấy các khoản cung và cầu thanh khoản rất đa dạng.
Sự chênh lệch giữa cung và cầu thanh khoản sẽ tạo ra trạng thái thanh khoản (Peter S. Sự chênh lệch này được tính dựa vào công thức sau: NLP, (Net Liquidity Position) = Tông cung thanh khoản —Tổng cầu thanh khoản Trạng thái thanh khoản ròng có thê xảy ra 1 trong 3 trường hợp sau: - Trường hợp 1: NLP > 0: Được gọi là thang du thanh khoan (Liquidity surplus), nghĩa là tông cung đang lớn hơn tổng cau (thang dư thanh khoản). Trường hợp này, các nhà quản trị ngân hàng cần lên kế hoạch xem xét nên lựa chọn các kênh nào để đầu tư nhằm mục tiêu sinh lãi từ các khoản thặng dư này.