CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẾ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Nghiên cứu của Archambault và cộng sự (2003) với đề tài “Một thử nghiệm đa quốc gia về công bố công khai báo cáo tài chính công ty ”, là nghiên cứu kế thừa và phát triển trên cơ sở nghiên cứu của White (1980). Nghiên cứu này của tác giả được tiến hành điều tra thực nghiệm tại 33 quốc gia có cái nhìn rộng hơn, kết hợp nhiều yếu tố được xem xét từ các tài liệu hiện có để phát triển một mô hình toàn diện hơn về quyết định công bố công khai BCTC. Tác giả sử dụng phân tích hồi quy nhiều lần để kiểm tra ý nghĩa của các yếu tố quyết định công khai thông tin BCTC.
Kết quả cho thấy rằng việc công khai thông tin bị ảnh hưởng bởi các yếu tố từ mỗi hệ thống được xác định ngay cả khi kiểm soát tất cả các hệ thông cùng một lúc. Tác giả sử dụng các thử nghiệm F, kết quả cho thấy công khai thông tin BCTC phụ thuộc vào các nhân tố văn hóa, hệ thống chính trị và kinh tế quốc gia, hệ thống tài chính và điều hành công ty. Ngoài ra, các nhân tố quyết định khác như tôn giáo, tự do chính trị, kiểm toán viên và đòn bẩy tài chính. Tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến công khai thông tin trên BCTC làm cơ sở đánh giá tính minh bạch như sau: Tran= f(văn hóa+ chính trị+ kinh tế+ tài chính+ đặc điểm hoạt động) - Nhân tố văn hóa: xác định theo văn hóa 4 chiều của Hofstede (1991) bao gồm khoảng cách quyền lực, chủ nghĩa cá nhân, né tránh rủi ro, chủ nghĩa nam tính.
Văn hóa dân tộc ảnh hưởng đến cách mọi người cảm nhận tình huống và tổ chức các thể chế. Ngoài ra tác giả cũng nghiên cứu trình độ văn hóa và tín ngưỡng tôn giáo cũng ảnh hưởng đến sự công khai thông tin BCTC. - Nhân tố chính trị: Hệ thống chính trị, quyền tự do tiếp cận BCTC, phương tiện truyền thông. - Nhân tố kinh tế: Mức độ phát triển kinh tế, lạm phát và thị trường vốn.
- Nhân tố tài chính: Quyền sở hữu, tình trạng niêm yết, cổ tức, chất lượng kiểm toán, đòn bẩy tài chính. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Đặc điểm hoạt động của đơn vị: Quy mô công ty, kết quả tài chính, lĩnh vực hoạt động. Nghiên cứu của Yasuhiro Yamada (2007) “Mục tiêu của báo cáo tài chính và vấn đề trong kế toán khu vực công”, nghiên cứu tập trung vào mục tiêu của BCTC vì các mục tiêu này là yếu tố chính quyết định bản chất của hệ thống BCTC, có tác động đáng kể đến nội dung của BCTC. Tác giả nêu bật lên các đặc trưng của BCTC khu vực công Nhật Bản bằng cách so sánh chúng với các báo cáo của Hoa Kỳ.
Cả hai quốc gia này có điểm đặc biệt giống nhau là đều cho rằng nhóm người dùng thông tin đầu tiên trên BCTC là công dân và đều hướng đến mục tiêu của BCTC là trách nhiệm giải trình, cung cấp thông tin minh bạch, hữu ích cho người ra quyết định. Tuy nhiên, mức độ nhận thức về tầm quan trọng của BCTC ở hai quốc gia là khác nhau. Người dân Hoa Kỳ được cho là có mức độ nhận thức cao hơn người Nhật, họ thường xuyên theo dõi cách mà Chính phủ sử dụng tiền thuế của họ và nhanh chóng phàn nàn khi họ cảm thấy không hài lòng. Hành vi đó là bắt nguồn từ sự tự nhận thức được họ chính là người cung cấp nguồn kinh phí mà Chính phủ cần để điều hành đất nước.
Người Nhật Bản họ không quan tâm nhiều như vậy, họ nghĩ một khi họ nộp đủ số tiền thuế thì họ cảm thấy họ không còn gì để làm với số tiền này, và ít quan tâm đến việc Chính phủ sử dụng như thế nào nên ngay cả khi BCTC của Chính phủ ở Nhật Bản được phát hành vẫn còn nghi ngờ về việc liệu BCTC có thực hiện đầy đủ vai trò mà đáng lẽ nó phải có hay không. Nghiên cứu cũng đề cập đến vấn đề rủi ro đạo đức, vì lợi ích riêng của bộ phận nhân viên khi lợi dụng quyền lực thực hiện lợi ích cá nhân và lợi ích nhóm của họ. Do nhu cầu sử dụng thông tin BCTC khác nhau ở hai quốc gia nên mục tiêu của BCTC khu vực công của Nhật Bản trong tương lai là đề ra mục tiêu cung cấp thông tin đánh giá trách nhiệm giải trình làm mục tiêu cơ bản. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Nghiên cứu của Jose Caamano-Alegre và cộng sự (2011) với đề tài “Minh bạch ngân sách ở chính quyền địa phương: một nghiên cứu thực nghiệm”, tác giả sử dụng bảng câu hỏi khảo sát theo thang đo Likert mức độ từ 1 đến 5 (từ rất không đồng ý đến đồng ý hoàn toàn) để làm sáng tỏ thêm các yếu tố quyết định về tính minh bạch ngân sách ở chính quyền địa phương.
Bảng câu hỏi được dựa trên Bộ quy tắc thực hành tốt đã được sửa đổi của IMF về Tính minh bạch tài chính (2007) và kiến thức thực tế về các quy trình ngân sách ở cấp chính quyền địa phương. Nghiên cứu được thực hiện tại 40 đô thị ở Galicia và thu được 33 mẫu phù hợp được sử dụng để đánh giá tính thống nhất nội bộ và để kiểm tra giả thuyết về các yếu tố quyết định tính minh bạch ngân sách. Tác giả đã tổng kết và nhóm các biến giải thích thành 3 loại: (1) các yếu tố kinh tế xã hội, (2) các biến tài chính và (3) các yếu tố chính trị. Kết quả nghiên cứu này, “nợ” có tác động tích cực đối với chỉ số minh bạch – điều này là ngược lại với các nghiên cứu trước đó.
Tác giả đã có giải thích phù hợp cho kết quả này là nợ có thể đã được tích lũy trong các căng thẳng tài chính trong quá khứ và không được quy cho chính phủ hiện tại, thâm hụt cho thấy một căng thẳng tài chính gần đây và thậm chí đang diễn ra. Do đó, kết quả của nghiên cứu có thể cho thấy rằng các chính phủ có xu hướng tăng cường tính minh bạch khi thừa hưởng gánh nặng tài chính nặng nề (nợ cao) và ban hành các chính sách giảm chi tiêu. Nghiên cứu của Cristina Silvia Nistor và cộng sự (2013) “Ảnh hưởng của các nhân tố môi trường tới sự phát triển của kế toán khu vực công Romani”, là một quốc gia mới nổi ở khu vực Trung và Đông Âu. Tác giả xác định có năm yếu tố ảnh hưởng đến kế toán KVC là: (1) chính trị, (2) pháp lý, (3) kinh tế, (4) văn hóa xã hội và (5) giáo dục.
Sử dụng phương pháp nghiên cứu thống kê, phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS 19.0, tác giả kết luận năm yếu tố này có liên kết với nhau và tác LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 động phụ thuộc lẫn nhau. Yếu tố chính trị có ảnh hưởng đến yếu tố kinh tế trong việc thay đổi các quyết định, cải cách hệ thống báo cáo kế toán và công bố thông tin. Yếu tố pháp lý kết hợp với yếu tố kinh tế đánh dấu sự phát triển của kế toán công, tạo ra một khung pháp lý quyết định hệ thống kế toán. Những người sử dụng thông tin kế toán là tài liệu tham khảo chính cho tiến độ xây dựng hệ thống kế toán.
Sự minh bạch và tin tưởng và thông tin kế toán là các yếu tố văn hóa xã hội có ảnh hưởng quan trọng đến kế toán. Hệ thống giáo dục một mặt kết hợp với sự phát triển kế toán mặt khác ảnh hưởng mạnh mẽ đến lý thuyết và thực hành kế toán thông qua các chuyên gia giảng dạy cho sinh viên đảm bảo xu hướng tối ưu hóa của sự phát triển kế toán công Rumani. Kết quả nghiên cứu này có thể được sử dụng làm cơ sở cho các quốc gia có nét tương đồng_nền kinh tế đang phát triển. Nghiên cứu của Ana-María Ríos và cộng sự (2014) về “Minh bạch ngân sách và giám sát lập pháp ngân sách: Một phương pháp tiếp cận quốc tế”.
Kế thừa những nghiên cứu trước về các yếu tố quyết định minh bạch bạch ngân sách, là một nghiên cứu bổ sung của Ana-María Ríos và cộng sự (2014) sử dụng dữ liệu của 93 quốc gia. Tác giả sử dụng chỉ số OBI năm 2010 và xây dựng một số chỉ số dựa trên các mục hỏi IBP năm 2010 để đo lường tính minh bạch, sau đó chạy hồi quy 2 SLS. Tác giả của bài báo tiến hành thực hiện điều tra các yếu tố quyết định của việc giám sát lập pháp ngân sách để đánh giá mức độ tác động đến tính minh bạch ngân sách của quốc gia. Kết quả cho thấy bên cạnh các yếu tố về hệ thống pháp lý, cạnh tranh chính trị và các yếu tố kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến tính minh bạch ngân sách thì nghiên cứu còn đưa ra mối quan hệ giữa giám sát lập pháp ngân sách có ảnh hưởng tích cực đến tính minh bạch ngân sách.
Giám sát lập pháp ngân sách có vai trò quan trọng trong việc tăng cường tính minh bạch ngân sách. Giám sát lập pháp là một công cụ cần thiết để xem xét việc thực hiện chính sách điều hành. Giám sát lập pháp ngân sách được nâng cao dẫn đến trách nhiệm giải trình của Chính phủ minh bạch hơn trong quá trình quản lý tài chính khu vực công. Nghiên cứu Lucie Sedmihradská (2015) “Đánh giá tính minh bạch ngân sách trong chính quyền địa phương của Czech”.
Ngoài đánh giá việc tuân thủ các yêu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 cầu công bố pháp lý, nghiên cứu còn đưa ra một bộ các tiêu chuẩn định tính để đánh giá dự thảo ngân sách và dự thảo báo cáo cuối năm. Các thông tin về dự thảo và ngân sách được công bố trên Internet. Tuy nhiên kết quả cho thấy, các địa phương chưa tuân thủ việc công bố thông tin trên Internet và chưa có biện pháp xử lý các địa phương không tuân thủ. Việc trình bày các tài liệu và thông tin ngân sách đăng tải không liên tục, công dân khó tiếp cận, không thuận tiện cho việc tìm kiếm những thông tin mà họ muốn biết.
Các tài liệu và thông tin đăng tải chỉ phù hợp cho các đối tượng có kiến thức sẵn trước. Nghiên cứu Maria Violeta Cimpoeru , Valentin Cimpoeru (2015) về “Tính minh bạch ngân sách- một yếu tố cải thiện kiểm soát tham nhũng và hiệu quả kinh tế”.