CHƯƠNG 1 Tác giả đã trình bày lý do chọn tên đề tài nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của Làng nghề Bánh Phồng huyện Cái Bè - tỉnh Tiền Giang”. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể và câu hỏi nghiên cứu của đề tài cần đạt được. Tác giả cũng xác định được phương pháp nghiên cứu, xác định phạm vi, đối tượng cùng ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Bố cục của nghiên cứu gồm 5 chương sẽ thực hiện.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT Giới thiệu cơ sở lý thuyết, mô hình tham khảo và các nghiên cứu đã được thực hiện trước đây trong nước và nước ngoài liên quan đến sự phát triển của Làng nghề. Từ đó, chương này sẽ làm nền tảng cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất trong chương 3, về các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của Làng nghề Bánh Phồng huyện Cái Bè - tỉnh Tiền Giang. LÝ THUYẾT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ 2. Lý thuyết chung về phát triển Theo Harrison thuật ngữ sự phát triển bao gồm nhiều ý nghĩa như tăng trưởng kinh tế, thay đổi cơ cấu, công nghiệp hóa, chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, tự hiện thực hoá và sự tự do cá nhân, quốc gia, khu vực và văn hoá.
Sự phát triển được Goldsworthy; Ingham mở rộng hơn, bên cạnh ý nghĩa về tăng trưởng kinh tế thì còn phải kết hợp với xã hội, đạo đức và các cân nhắc về môi trường. Mục đích cuối cùng của sự phát triển nhằm cải thiện và hoàn thiện cho cuộc sống con người thông qua việc lựa chọn các giải pháp. Còn theo Todaro thì đưa ra ba giá trị cốt lõi và ba mục tiêu hàng đầu của sự phát triển. Giá trị cốt lõi của sự phát triển là nuôi dưỡng, lòng tự trọng và tự do.
Ba mục tiêu của sự phát triển bao gồm: (1) Đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người; (2) Nâng cao thu nhập, giáo dục tốt hơn, đảm bảo việc làm và quan tâm đến các giá trị văn hoá và nhân bản, lòng tự trọng của dân tộc; (3) Lựa chọn hình thức kinh tế và xã hội để cá nhân được tự do, quốc gia không phụ thuộc vào quốc gia khác. Redclift đã mở rộng thêm cho thuật ngữ sự phát triển, sự phát triển còn được đề cập đến vấn đề phát triển bền vững. Theo WCED (Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển), sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng chi phí để đáp ứng nhu cầu riêng của họ. Cách thức đo lường sự phát triển cũng đã thay đổi theo thời gian.
Các quan niệm truyền thống về sự phát triển như chất lượng cuộc sống, thu nhập bình quân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 đầu người hoặc GNP dần được bổ sung các chỉ số khác như: Chỉ số phát triển con người (kinh tế xã hội), Chỉ số phúc lợi xã hội bền vững, và Chỉ số tự do chính trị và dân sự. Hettne đưa ra kết luận, tùy theo hoàn cảnh cụ thể mà thuật ngữ sự phát triển sẽ có cách hiểu và đo lường khác nhau. Như vậy sự phát triển bao gồm việc chuyển đổi cơ cấu bao hàm các thay đổi chính trị, văn hoá, xã hội và kinh tế. Khái quát về làng nghề 2.
Khái niệm làng nghề, làng nghề truyền thống Lịch sử nông thôn Việt Nam gắn liền với các thôn làng và các làng nghề. Chúng là đặc trưng kinh tế cho truyền thống kinh tế, văn hóa của xã hội nông thôn. Các làng nghề là cầu nối giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa nông thôn và thành thị, giữa truyền thống và hiện tại, là nấc thang quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa ở nông thôn nước ta. Theo Trần Thị Thùy Linh nói đến làng nghề chúng ta cần chú ý 2 yếu tố cấu thành đó là làng và nghề.
Làng là một khu vực địa lí, một không gian lãnh thổ nhất định, ở đó tập hợp những người dân cùng sinh sống, cùng sản xuất. Các làng nghề gắn bó với các ngành nghề phi công nghiệp, các ngành nghề thủ công ở các thôn làng. Năm 2006, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 quy định nội dung và các tiêu chí công nhận làng nghề, làng nghề truyền thống. Theo đó, Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau.
Theo Vũ Ngọc Hoàng: làng nghề được hiểu theo nghĩa rộng có thể là cụm các làng nghề, không bó hẹp trong phạm vi hành chính của một làng mà gồm một hoặc một số làng cùng một tiểu vùng, cùng địa lí kinh tế, cùng sản xuất một chủng loại hàng hóa truyền thống hoặc cùng kinh doanh liên quan đến một nghề phi nông nghiệp và có quan hệ mật thiết với nhau về kinh tế - xã hội. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Tóm lại: có thể hiểu làng nghề là một cộng đồng dân cư sống tập trung trên cùng một địa bàn ở nông thôn. Trong làng đó có một bộ phận dân cư tách ra cùng nhau sinh sống bằng việc sản xuất một hoặc một số loại hàng hoá, dịch vụ trong đó có ít nhất một loại hàng hoá dịch vụ đặc trưng thu hút đông đảo lao động hoặc hộ gia đình trong làng tham gia, đem lại nguồn thu nhập chính và chiếm tỷ trọng lớn so với thu nhập dân cư được tạo ra trên địa bàn làng hoặc cộng đồng dân cư đó. Truyền thống là thuật ngữ dùng để chỉ các giá trị, yếu tố, quan niệm của một cộng đồng người hay của xã hội lưu giữ trong một thời gian dài từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Truyền thống thể hiện tính kế thừa là chủ yếu, tuy nhiên cũng có sự phát triển theo lịch sử. Truyền thống được biểu hiện ở hình thức như truyền thống học tập, lễ hội truyền thống, truyền thống dòng họ, nghề truyền thống (Vũ Ngọc Hoàng, 2016). Thông tư số 116/2006/TT-BNN, nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền. Như vậy có thể hiểu về làng nghề truyền thống là loại hình làng nghề đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, trong đó hoạt động kinh tế chủ yếu gồm có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, là nơi hội tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, là nơi có nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, giữa họ có sự liên kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Phân biệt làng nghề mới, làng có nghề và làng nghề truyền thống Căn cứ thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông Nghiệp và PTNT hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP của chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: So sánh các tiều chí công nhận làng nghề Làng nghề Làng Làng Làng Các tiêu chí công nhận truyền có nghề nghề nghề mới thống Tỉ lệ số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông 10 30 30 30 thôn (%) Số năm hoạt động sản xuất kinh Ít nhất có doanh ổn định tính đến thời 2 2 2 - < 50 một nghề điểm đề nghị công nhận (năm) trên 50 năm Chấp hành chính sách, pháp luật Tốt Tốt Tốt Tốt của nhà nước (Nguồn: Tác giả tổng hợp từ thông tư số 116/2006/TT-BNN) Làng nghề được công nhận phải đạt 3 tiêu chí sau: (1) Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn, (2) Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận, (3) Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của nhà nước. Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất 1 nghề truyền thống: (1) Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính từ thời điểm đề nghị công nhận, (2) Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc, (3) Nghề gắn với nhiều tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề. Làng nghề mới là những làng có ngành nghề phát triển trong những năm gần đây, chủ yếu do sự lan tỏa từ làng nghề truyền thống hoặc do sự du nhập trong quá trình hội nhập giữa các vùng và giữa các nước.
Ngay các làng nghề truyền thống cũng có sự đan xen giữa nghề mới và nghề truyền thống. Làng có nghề là làng được hình thành cùng với sự phát triển nền kinh tế chủ yếu là do sự lan tỏa của làng nghề truyền thống, có những điều kiện nhất định để LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 hình thành và phát triển. Trong đó làng có số hộ, số lao động sản xuất công nghiệp tiểu thủ công nghiệp ít nhất từ 10% trở lên. Đặc điểm của làng nghề Theo Trần Thị Thùy Linh (2012), làng nghề có 7 đặc điểm cơ bản sau: Một là; các làng nghề là tồn tại ở nông thôn là đặc điểm nổi bật nhất, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp.
Các làng nghề xuất hiện trong từng làng - xã ở nông thôn sau đó các ngành nghề thủ công nghiệp được tách dần nhưng không rời khỏi nông thôn, sản xuất nông nghiệp và sản xuất kinh doanh thủ công nghiệp trong các làng nghề đan xen lẫn nhau. Người thợ thủ công trước hết và đồng thời là người nông dân. Hai là; công nghệ kỹ thuật sản xuất sản phẩm trong các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống thường rất thô sơ, lạc hậu, sử dụng kỹ thuật thủ công là chủ yếu. Ba là; đại bộ phận nguyên vật liệu của các làng nghề thường là tại chỗ.
Hầu hết các làng nghề truyền thống được hình thành xuất phát từ sự sẵn có của nguồn nguyên liệu sẵn có tại chỗ, trên địa bàn địa phương. Cũng có thể có một số nguyên liệu phải nhập từ vùng khác hoặc từ nước ngoài như một số loại chỉ thêu, thuốc nhuộm. song không nhiều. Bốn là; phần đông lao động trong các làng nghề là lao động thủ công.