CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHÈO ĐÓI 1. KHÁI NIỆM VỀ NGHÈO ĐÓI Có rất nhiều khái niệm về nghèo đói, tùy thuộc vào những đối tượng khác nhau mà họ nhận thức về nghèo đói khác nhau, sau đây là một số khái niệm về nghèo đói. Theo Ngân Hàng Thế Giới, nghèo là một khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất. Nghèo không chỉ dựa trên thu nhập mà bao gồm các vấn đề liên quan tới: dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dể bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực.
Tháng 3 năm 1993, hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban Kinh Tế - Xã Hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok, Thái Lan đã thống nhất khái niệm nghèo đói: nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tâp quán từng vùng mà những phong tục ấy được xã hội công nhận. Theo Solages (1996), nghèo khổ cùng cực là một điều kiện sống bị hạn chế bởi suy dinh dưỡng, mù chữ, bệnh tật, môi trường bị ô nhiễm, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh cao, tuổi thọ thấp, còn tệ hại hơn so với bất kỳ định nghĩa nào khả dĩ chấp nhận được về một cuộc sống bình dị nhất của một con người. Theo người đứng đầu tổ chức lao động quốc tế (ILO) năm 1998, ông Abaipia Sen, nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. Trong nhận thức của người Việt Nam khi nói tới nghèo đói mọi người hiểu rằng, đó là tình trạng “cơm không đủ no, áo không đủ mặc con cái không được học hành tử tế, ốm đau không có tiền trị bệnh, nhà cửa tạm bợ, không có đất đai để sản xuất…”.
Đến nay khái niệm nghèo đói vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất bởi các tiêu chí về chất và về lượng, giàu và nghèo là hai khái niệm có ý nghĩa trái ngược nhau. Theo từ điển Tiếng Việt, viện ngôn ngữ học “nghèo là tình trạng không có 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoặc có rất ít những gì thuộc về yêu cầu tối thiểu của đời sống vật chất, nghèo trái ngược với giàu”. Qua một số khái niệm và nhận thức về nghèo đói đã nêu trên cho thấy không có chuẩn nghèo chung cho tất cả các quốc gia, các khu vực, vì chúng phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng đó là sự thay đổi theo không gian và thời gian. Do đó, chuẩn nghèo cũng là một đại lượng thay đổi theo không gian và thời gian chứ không phải là đại lượng bất biến.
PHÂN LOẠI NGHÈO ĐÓI 1. Nghèo tuyệt đối Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục. Đó là mức tồn tại tối thiểu để duy trì cuộc sống con người, là tình trạng không thỏa mãn các nhu cầu cơ bản cho cuộc sống của con người mà những nhu cầu này đã được thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương. Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân Hàng Thế Giới, đã đưa ra khái niệm (Nghèo tuyệt đối): "Nghèo tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại.
Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn, tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới tri thức chúng ta". Nghèo tương đối Nghèo tương đối là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới trung bình của cộng đồng. Người nghèo của địa phương này có thể không là người nghèo của địa phương khác. Nghèo sơ cấp Nghèo sơ cấp hay còn gọi là nghèo hữu hình là tình trạng mức sống của người được nghiên cứu thấp đến mức họ không tự đảm bảo được sự tồn tại có tính hữu hình của họ.
Nghèo thứ cấp Nghèo thứ cấp là nghèo về tinh thần, là thiếu thốn trong lĩnh vực tâm lý xã hội. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH ĐỐI TƯỢNG NGHÈO HIỆN NAY 1. Chi tiêu hộ gia đình Phương pháp này do các chuyên gia của Ngân Hàng Thế Giới đề xuất và cũng là phương pháp hiện nay được nhiều quốc gia trên thế giới vận dụng để xác định chuẩn nghèo cấp quốc gia.
Ý tưởng trong nội dung của phương pháp này là căn cứ vào nhu cầu chi tiêu để đảm bảo nhu cầu cơ bản của con người trong đó lương thực (70%) phi lương thực (30%), được tiến hành trình tự theo ba bước. Bước 1: Xác định nhu cầu chi tiêu cho lương thực thực phẩm (nhu cầu ăn uống để tồn tại). Để xác định nhu cầu này, người ta xác định rổ hàng hóa (khoảng 40 mặt hàng, chia thành 16 nhóm) để bình quân hàng ngày một người tiếp nhận được khoảng 2. Bước 2: Xác định nhu cầu chi tiêu phi lương thực, đối với nhóm giàu thì chi cho lương thực và phi lương thực là bằng nhau (50%), đối với nhóm nghèo thì (70%) chi cho lương thực và phi lương thực (30%).
Bước 3: Xác định tổng nhu cầu chi tiêu cho lương thực và phi lương thực. Tổng nhu cầu đó chính là chuẩn nghèo. Người có thu nhập thấp hơn chuẩn nghèo được xếp vào nhóm người nghèo. Ưu điểm của phương pháp này là phản ánh sát thực tế cuộc sống của người nghèo, cơ sở khoa học, mức độ tin cậy cao, nhiều quốc gia áp dụng.
Tuy vậy, bên cạnh những ưu điểm thì phương pháp này cũng bộc lộ một số nhược điểm, để khai thác được số liệu chi tiêu hộ gia đình thì cần phải khảo sát phỏng vấn trực tiếp, cỡ mẫu đòi hỏi phải lớn để đảm bảo độ tin cậy cao. Cho nên đây là vấn đề tốn kém về mặt thời gian, tiền bạc và nguồn lực. Phương pháp này thật sự có tác dụng khi áp dụng ở cấp tỉnh trở lên hạn chế đáng kể khi áp dụng ở cấp thấp hơn. Vẽ bản đồ nghèo Phương pháp này kết hợp giữa phỏng vấn sâu của điều tra hộ với phạm vi rộng của tổng điều tra dân số.
Những cuộc điều tra hộ như Điều Tra Mức Sống Hộ Gia Đình, thu thập thông tin không chỉ về chi tiêu của hộ mà còn cả về một số các biến khác, như quy mô, thành phần của hộ, trình độ học vấn của các thành viên trong 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hộ,… Còn tổng điều tra dân số không hỏi về chi tiêu, nhưng lại bao gồm những thông tin về nhiều biến số kể trên. Phương pháp vẽ bản đồ nghèo là gắn hai công cụ thống kê này tiến hành theo ba bước chính. Bước thứ 1: Xác định một loạt các biến số chung của 2 cuộc điều tra trong cùng kỳ. Bước thứ 2: Tiến hành phân tích thống kê để đánh giá mối quan hệ giữa mức chi tiêu bình quân đầu người với những biến số này.
Bước thứ 3: Sử dụng những kết quả từ phân tích này để dự báo chi tiêu của những hộ có trong tổng điều tra dân số. Mức chi tiêu dự báo này dùng để đánh giá xem một hộ có nghèo hay không. Phương pháp này được xem là một trong những phương pháp đo lường đói nghèo tốt nhất, cho phép tính được tỷ lệ nghèo ở các cấp từ thấp đến cao. Tuy nhiên, phương pháp này vẫn có hạn chế bởi mức chi tiêu dự báo chỉ có thể ước tính với sai số.
Phương pháp dựa vào thu nhập Từ năm 1993 đến nay, Việt Nam đã 4 lần nâng mức chuẩn nghèo. Chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010 đã được xây dựng trên 3 yêu cầu: (i) xóa đói giảm nghèo toàn diện hơn, (ii) công bằng hơn và (iii) hội nhập theo chuẩn nghèo quốc tế. Theo đó, những hộ gia đình ở nông thôn có mức thu nhập bình quân dưới 200.000 đồng/người/tháng (2,4 triệu đồng/người/năm) được coi là hộ nghèo. Ở khu vực thành thị, những hộ có mức thu nhập bình quân dưới 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3,12 triệu đồng/người/năm) được coi là hộ nghèo (Đây cũng là phương pháp xác định hộ nghèo được Bộ LĐTBXH áp dụng).
Phân loại địa phương1 Ưu điểm chính trong cách làm của Bộ LĐTBXH ở địa phương trên thực tế lại là do các địa phương không tuân thủ một cách cứng nhắc, phương pháp dựa vào thu nhập nêu trong tài liệu hướng dẫn. Điểm cơ bản trong phương pháp này là xác định đối tượng nghèo và phân bổ các khoản trợ giúp trên thực tế ở cấp địa phương là có 1 Xem tài liệu [09], trang 18 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sự chi phối của một thiết chế theo tập tục truyền thống, đó là thôn. Mỗi thôn sẽ lên danh sách những hộ nghèo và đói. Danh sách này sẽ được cập nhật một trong hai lần trong một năm, khi mà những lợi ích như miễn giảm học phí và thẻ khám chữa bệnh được phát.
Những hộ được coi là không nghèo thường không tham gia vào hội đồng này vì họ ít có khả năng nhận được nhận được lợi ích gì. Nhiều khi số kinh phí có được không cho phép phân bổ những khoản trợ giúp cho tất cả những hộ được xếp vào diện nghèo. Do đó, vấn đề là bàn xem ai sẽ nhận được những khoản trợ giúp đó. Phương pháp của BLĐTBXH chỉ được sử dụng mỗi khi không đạt được sự nhất trí liệu một hộ này hay một hộ khác sẽ được nhận trợ cấp.
Nhược điểm của phương pháp này là thiếu một quy tắc chặt chẽ để xác định hộ nghèo và việc đánh giá ở cấp thôn có thật sự chính xác tìm ra hộ nghèo hay không, đó là vấn đề không chắc chắn. Một nhược điểm nữa là nó hoàn toàn loại bỏ một số hộ ra khỏi việc xem xét phân loại. Những hộ bị coi là không chịu chăm chỉ lao động hoặc không có trách nhiệm xã hội hiếm khi được trợ giúp, thậm chí không được liệt vào những danh sách những hộ nghèo. Phương pháp tự đánh giá Trong phương pháp này, các hộ được yêu cầu tự đánh giá về hiện trạng nghèo của mình.
Không có hướng dẫn gì về những tiêu chí để dựa vào đó mà đánh giá, do đó cách làm này hoàn toàn mang tính chủ quan. Nhược điểm của phương pháp này là không thể tạo ra những tỷ lệ nghèo có thể so sánh giữa các xã, các huyện hoặc các tỉnh.