Chương 1 và Chương IV định nghĩa TƯLĐTT “là một thỏa thuận bằng văn bản được thông qua giữa một bên NSDLĐ hoặc công đoàn của NSDLĐ với một bên là công đoà n của NLĐ liên quan đến các điều khoản và điều kiện làm việc và công việc của NLĐ hay liên quan đến quan hệ giữa các bên”. “TƯLĐTT được ghi bằng văn bản và được các bên ký đồng ý hoặc bởi người đại diện cho các bên ký đồng ý” (Khoản 1 Điều 14). Tại Việt Nam, Khoản 1 Điều 73 BLLĐ năm 2012 đưa ra định nghĩa về TƯLĐTT như sau: “Thỏa ước lao động tập thể là văn bản thỏa thuận giữa tập thể người lao động và người sử dụng lao động về các điều kiện mà hai bên đã đạt được hông qua thương lượng tập thể”. Từ những phân tích nêu trên, có thể thấy TƯLĐTT là thỏa thuận giữa một bên là đại diện ản thể của NLĐ, có thể là toàn bộ hoặc đa số NLĐ cùng làm việc trong toàn doanh nghiệp, thậm chí trong một ngành, một vùng.
và thường là đại diện Ban chấp hành Công đoàn với một bên là đại diện NSDLĐ, có thể là một hoặc nhiều NSDLĐ nhằm đưa ra các quy định khung để điều chỉnh mối quan hệ lao động và được thể hiện bằng văn bản. Đặc điểm của thỏa ước lao động tập thể. TƯLĐTT có thể hiểu là một bản "hợp đồng lao động mẹ" giữa NSDLĐ và tập thể NLĐ, thông qua đối thoại, thương lượng về các điều kiện lao động mà hai bên đã đạt được, do đó, TƯLĐTT có những đặc điểm cơ bản như sau: Thứ nhất, TƯLĐTT là kết quả của quá trình thương lượng tập thể. Do đó, nó vừa mang tính chất như một hợp đồng khung vừa có tính chất như một văn bản có tính pháp quy, bởi nó được ra đời từ quá trình thương lượng giữa các chủ thể nhưng lại bắt buộc thực hiện theo quy định của thỏa ước, không chỉ đối với các thành viên tham gia ký kết mà cả các thành viên khác liên quan.
Thứ hai, chủ thể của TƯLĐTT là đại diện của các bên tham gia trong quan hệ lao động, cụ thể một bên luôn là đại diện của tập thể NLĐ, thường là tổ chức công đoàn do NLĐ tự nguyện thành lập và tham gia theo quy định của pháp luật và một bên có thể là đại diện của một NSDLĐ cũng có thể là đại diện của nhiều NSDLĐ. Thứ ba, nội dung của TƯLĐTT thường liên quan đến các vấn đề phát sinh khi các bên tham gia quan hệ lao động như: điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia quan hệ lao động nhằm duy trì và phát triển mối quan hệ giữa các chủ thể trong quan hệ lao động. Thứ tư, hình thức của TƯLĐTT thường bằng văn bản. Bởi lẽ do TƯLĐTT mang tính chất như một văn bản pháp quy nên thỏa ước cần được thể hiện bằng văn bản để các bên có thể dễ dàng theo dõi việc thực hiện khoa ước cũng như có cơ sở rõ ràng khi giải quyết tranh chấp.
Mặt khác ở nhiều quốc gia, nếu doanh nghiệp đã có ký kết TƯLĐTT thì NLĐ khi vào làm việc. Xét về thực chất TƯLĐTT là những quy định nội bộ của doanh nghiệp, trong đó bao gồm những thỏa thuận giữa tập thể lao động và NSDLĐ về những vấn đề có liên quan đến quan hệ lao động. TƯLĐTT là một sự tiến bộ xã hội, thừa nhận quyền của mọi người làm công ăn lương, được thông qua người đại diện của mình là Công đoàn để xác định một cách tập thể những 3 điều kiện lao động, đặc biệt là những điều kiện có lợi hơn cho NLĐ so với quy định của pháp 11 luật lao động, đó là một trong những tiêu chí cơ bản của vấn đền nhân quyền. Thông qua TƯLĐTT sẽ thống nhất hóa được chế độ lao động đối với những NLĐ cùng một ngành nghề, công việc, trong cùng một doanh nghiệp, một vùng, một ngành (nếu là thỏa ước vùng, ngành).
Như vậy sẽ loại trừ được sự cạnh tranh không chính đáng, nhờ sự đồng hóa các đảm bảo xã hội trong các bộ phận doanh nghiệp, trong các doanh nghiệp cùng loại ngành nghề, công việc (nếu là thỏa ước ngành). Phân loại thỏa ước lao động tập thể. TƯLĐTT có thể được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau như căn cứ vào phạm vi áp dụng thỏa ước, chủ thể ký kết thỏa ước, thời hạn có hiệu lực của thỏa ước. Theo đó, có thể phân loại thỏa ước lao động tập thể thông qua những tiêu chí cơ bản sau: a) Căn cứ vào phạm vi áp dụng thỏa ước lao động tập thể Dựa theo phạm vi áp dụng, TƯLĐTT được chia thành các loại sau: - Thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp TƯLĐTT doanh nghiệp là loại thỏa ước được ký kết và thực hiện phổ biến nhất ở nước ta, đây là thỏa ước ký kết giữa một bên là đại diện tập thể lao động tại cơ sở và bên kia là NSDLĐ hoặc đại diện NSDLĐ.
Loại thỏa ước này dễ thực hiện do không đòi hỏi chủ thể đàm phán phức tạp, nội dung đơn giản gắn với đặc thù riêng của từng doanh nghiệp, tuy nhiên nội dung của TƯLĐTT là kết quả của quá trình thương lượng thường bị ảnh hưởng bởi NSDLĐ, nếu đại diện lao động bị phụ thuộc nhiều vào NSDLĐ hoặc họ không có đủ trình độ chuyên môn cũng như khả năng thương lượng. - Thỏa ước lao động tập thể ngành Cũng như TƯLĐTT doanh nghiệp, TƯLĐTT ngành có chủ thể tham gia ký kết giữa bên tập thể lao động là Chủ tịch công đoàn ngành và bên NSDLĐ là đại diện của tổ chức đại diện NSDLĐ đã tham gia thương lượng tập thể ngành. TƯLĐTT ngành thường mang những nội dung thỏa thuận đặc trưng có tính định khung của các doanh nghiệp trong cùng ngành. Loại thỏa ước này được sử 12 dụng phổ biến ở các quốc gia Tây Âu, do đặc điểm kinh tế xã hội và lịch sử ở các nước này thường hình thành các công đoàn ngành.
Tuy nhiên việc ký kết thành công loại thỏa ước này thường khó khăn hơn thỏa ước của doanh nghiệp do không phải các doanh nghiệp trong cùng ngành luôn có điều kiện lao động cũng như sử dụng lao động tương đương nhau và nội dung thương lượng sẽ phức tạp và rộng hơn. - Thỏa ước lao động tập thể nhóm doanh nghiệp, khu vực, vùng, địa phương Thỏa ước lao động tập thể nhóm doanh nghiệp, khu vực, vùng, địa phương được ký kết giữa đại điện lao động là Công đoàn đại diện cho NLĐ trong cùng một nhóm doanh nghiệp, khu vực, vùng hoặc địa phương với đại diện NSDLĐ của các doanh nghiệp của nhóm doanh nghiệp khu vực, vùng, địa phương đó. Loại thỏa ước này thường được sử dụng ở các nước có nền kinh tế phát triển với hoạt động sản xuất kinh doanh thường được tổ chức thành những khu vực như khu chế xuất, khu công nghiệp, vùng công nghiệp. Pháp luật ở Việt Nam chưa có quy định cụ thể đối với loại thỏa ước này mà được quy định mở “do Chính phủ quy định”.
Tuy nhiên, muốn xây dựng được loại thỏa ước này thì các tổ chức đại diện của hai bên chủ thể cần được trang bị về mọi mặt như kiến thức pháp lý, sự cân bằng trong điều kiện kinh tế giữa các thành viên tham gia thỏa ước. - Thỏa ước lao động tập thể quốc gia Đây là loại thỏa ước có giá trị pháp lý cao nhất, bao trùm trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, thỏa ước này sẽ là khung pháp lý chung đối với các loại TƯLĐTT khác, góp phần tạo sự ổn định hoạt động lao động nói riêng góp phần phát triển kinh tế xã hội của cả quốc gia nói chung. Tuy nhiên để thương, lương thành công loại thỏa ước này không phải là một vấn đề đơn giản, bởi lẽ do phạm vi áp dụng rất rộng, các quy định của thỏa ước trải dài trên nhiều lĩnh vực cần có sự đồng thuận của hai bên thương lượng cũng như các điều tiên về kinh tế xã hội cũng cần được đảm bảo. Hiện nay trên thế giới Anh ký TƯLĐTT quốc gia 13 vào giữa thế kỷ XIX và Na Uy ký TƯLĐTT quốc gia vào năm1935 là hai trong số các quốc gia phát triển đã có TƯLĐTT quốc gia sớm nhất.
b) Căn cứ vào chủ thể tham gia ký kết thỏa ước lao động tập thể Dựa theo tiêu chí thu thể tham gia ký kết TƯLĐTT được chia ra làm 02 loại cơ bản sau: - TƯLĐTT giữa một NSDLĐ với tập thể NLĐ: loại thỏa ước này thường áp dụng tại doanh nghiệp. - TƯLĐTT giữa nhiều NSDLĐ với nhiều tập thể NLĐ: loại thỏa ước này thường là các TƯLĐTT ngành; TƯLĐTT nhóm doanh nghiệp; TƯLĐTT vùng, khu vực; TƯLĐTT địa phương hoặc TƯLĐTT quốc gia c) Căn cứ vào hiệu lực, tính hợp pháp của thỏa ước lao động tập thể - Dựa theo tiêu chí hiệu lực, TƯLĐTT gồm 02 loại: TƯLĐTT có hiệu lực và TƯLĐTT vô hiệu. - Dựa theo tiêu chí tính hợp pháp, TƯLĐTT gồm 02 loại: TƯLĐTT hợp pháp và TƯLĐTT trái pháp luật. d) Căn cứ vào thời hạn của thỏa ước lao động tập thể Dựa theo tiêu chí thời hạn của TƯLĐTT thường chia làm: TƯLĐT dưới 01 năm, TƯLĐTT 1 năm; TƯLĐTT 02 năm hoặc TƯLĐTT 03 năm.
e) Căn cứ vào nội dung của thỏa ước lao động tập thể Dựa theo tiêu chí nội dung, TƯLĐTT có thể được chia làm các loại thỏa ước sau: TƯLĐTT về tiền lương và phụ cấp lương, TƯLĐTT về an toàn vệ sinh lao động, TƯLĐTT về thời giờ làm việc, nghỉ ngơi. Vai trò của thỏa ƣớc lao động tập thể trong quan hệ lao động Có thể nói, thỏa ước lao động tập thể là một sự tiến bộ xã hội, thừa nhận quyền của mọi người làm công ăn lương, được thông qua người đại diện của mình là công đoàn để xác định một cách tập thể những điều kiện lao động, đặc biệt là những điều kiện có lợi hơn cho người lao động so với quy định của pháp luật lao động, đó là một trong những tiêu chí cơ bản của vấn đền nhân 14 quyền. Cụ thể, đối với doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể có các vai trò sau đây: Thứ nhất, thỏa ước lao động tập thể là một công cụ pháp lý thực hiện pháp luật lao động quốc tế và pháp luật lao động quốc gia TƯLĐTT được điều chỉnh bởi pháp luật lao động. Nếu như pháp luật lao động chỉ quy định những nguyên tắc chung, có tính chất bao trùm, phổ quát nhất để điều chỉnh các quan hệ lao động thì TƯLĐTT hướng đến những quy định cụ thể để giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn quan hệ lao động.