ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của chuyên đề Nước là cuội nguồn của sự tồn tại, mọi sự sống đều bắt nguồn từ nước. Vai trò của nước là muôn màu, muôn vẻ, nước quyết định sự sống trên trái đất. Khẳng định tầm quan trọng then chốt của nước, đặc biệt là nước ngọt, về mọi mặt trong phát triển bền vững, bao gồm việc: xóa đói giảm nghèo, giảm tác hại do nước gây ra, ảnh hưởng đến sức khỏe, đến sự phát triển và nông nghiệp và nông thôn, thủy điện, an ninh lương thực, bình đẳng giới, cũng như duy trì và bảo vệ môi trường.
Tài nguyên nước ở Việt Nam là có hạn và đang chịu một sức ép nghiêm trọng trước tình trạng ô nhiễm và sử dụng quá mức cho phép. Đây là hậu quả chung của các yếu tố: Dân số gia tăng, phát triển kinh tế và công tác quản lý tài nguyên nước chưa thỏa đáng. Chính các nguyên nhân trên đã làm cho tài nguyên nước bị suy giảm cả về số lượng và chất lượng. Khả năng tiếp cận nước sinh hoạt là nhu cầu căn bản nhất của con người.
Tuy nhiên sự chênh lệch về khả năng tiếp cận với nước sạch giữa các tỉnh thành, giữa các vùng có sự khác nhau rõ rệt. Tỉ lệ các hộ được tiếp cận với nước sạch ở khu vực thành thị là78%, trong khi đó tỉ lệ này ở các khu vực nông thôn Việt Nam chỉ là 44%. Ở các khu vực nông thôn, khả năng tiếp cận với nước sạch thấp, chủ yếu là sử dụng các nguồn nước tự nhiên từ nước mưa, nước ngầm tại các giếng khoan, giếng khơi, nước mặt tại ao hồ, sông ngòi.Chất lượng nước từ các nguồn tự nhiên trên thường khó được kiểm soát và không được đảm bảo, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sinh hoạt và phát triển của người dân tại các vùng nông thôn, từ đó có tác động không nhỏ đến xu hướng phát triển chung của toàn xã hội. 2 Xuất phát từ thực trạng của việc sử dụng nước trong sinh hoạt của người dân tại xã Bế triều, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, để đánh giá được chất lượng của nguồn nước đang sử dụng tại xã Bế Triều, đồng thời để xác định được nhu cầu tiếp cận nước sạch của người dân, tôi nghiên cứu đề tài: “Chất lượng nước sinh hoạt và nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân xã Bế Triều, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng”.
Mục đích và yêu cầu nghiên cứu 1. Mục đích của chuyên đề - Thông qua nghiên cứu chuyên đề nắm được hiện trạng chất lượng của nguồn nước sử dụng cho sinh hoạt tại xã Bế Triều, huyện Hòa an, tỉnh Cao Bằng. - Nắm được tình hình sử dụng nước sinh hoạt trên địa bàn xã Bế Triều, huyện Hòa an, tỉnh Cao Bằng. - Xác định được nhu cầu sử dụng nước sạch cho sinh hoạt của người dân tại xã Bế Triều, huyện Hòa an, tỉnh Cao Bằng.
Yêu cầu của đề tài - Điều tra thu thập thông tin, phân tích để xác định các nguồn, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước sinh hoạt. - Số liệu phản ánh chung thực, khách quan. - Những kiến nghị đưa ra có tính khả thi, phù hợp với điều kiện của địa phương. Ý nghĩa của đề tài - Phản ánh được thực trạng về môi trường nước sinh hoạt tại xã Bế Triều, huyện Hòa an, tỉnh Cao Bằng.
- Cảnh báo các vẫn đề cấp bách và nguy cơ tiềm tàng về ô nhiễm suy thoái môi trường nước. - Làm cơ sở cho công tác quy hoạch, kế hoạch, xây dựng chính sách bảo vệ môi trường nước, kế hoạch cấp nước sạch cho nhân dân xã Bế Triều, huyện Hòa an, tỉnh Cao Bằng. 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2.
Cơ sở lý luận Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền và hải đảo Nước ngầm là nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới mặt đất Nước sinh hoạt là nước có thể dùng cho ăn uống, vệ sinh của con người * Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước Sự ô nhiễm nước có thể có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo: - Nguồn gốc tự nhiên: do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt đưa vào môi trường nước chất thải bẩn, các sinh vật, VSV có hại. - Nguồn gốc nhân tạo: chất thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp. vùng dân cư, GTVT, thuốc diệt cỏ, phân bón nông nghiệp vào môi rường nước. Các xu hướng chính thay đổi chất lượng nước khi ô nhiễm - Giảm độ pH của nước ngọt - Tăng hàm lượng các ion Ca2+, Mg2+, So42- trong nước ngầm và nước sông - Tăng hàm lượng các KLN (Pb, Hg, Cd, As, Cu, Zn) và các anion PO43-, NO2-, NO3-.
- Tăng hàm lượng các hợp chất hữu cơ (khó bị phân hủy sinh học) - Giảm nồng độ oxy hòa tan trong nước tự nhiên do các quá trình oxy hóa 2. Cơ sở pháp lý - Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 được Quốc hội nước CHXHCNVN khóa XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành ngày 01/07/2006. - Luật Tài nguyên nước số: 17/2012/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21/06/2012 và có hiệu lực từ 01/01/2013. - Căn cứ nghị định 117/2007/NĐ - CP ngày 11/07/2007 của Chính phủ về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch.
4 - Thông tư 21/2012/TT-BTNMT ban hành ngày 19/12/2012 quy định việc bảo đảm chất lượng và kiểm soát chất lượng trong quan trắc môi trường. - Quyết định số 104/2000/QĐ - TTg ngày 25/08/2000 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020. - Quyết định số 09/2005/QĐ - BYT ngày 11/03/2005 của Bộ trưởng y tế về việc ban hành tiêu chuẩn ngành: Tiêu chuẩn vệ sinh nước sạch. - Quyết định số 22/2006/ QĐ - BTNMT ngày 18/12/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc bắt buộc áp dụng các tiêu chuẩn Việt Nam.
- TCVN 5992:1995 (ISO 5667-2:1991) - Chất lượng nước-Lấy mẫu. Hướng dẫn kỹ thuật lấy mẫu. - TCVN 5993:1995 (ISO 5667-2:1991) - Chất lượng nước-Lấy mẫu. Hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu.
- QCVN 08:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng môi trường nước mặt. - QCVN 09:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm. Thực trạng về tài nguyên nước ở Việt Nam 2. Tình hình sử dụng tài nguyên nước ở Việt Nam Tài nguyên nước của Việt Nam rất phong phú, chất lượng khá tốt đảm bảo đủ cho nhu cầu sử dụng hiện nay, ngoại trừ ở một số đô thị lớn và khu công nghiệp tập trung, nước bị nhiễm bẩn, có nơi bị nhiễm bẩn nặng như ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
Hơn nữa lượng nước lại phân bố không đồng đều theo thời gian và không gian. Tuỳ theo vùng, mùa cạn ít nước (20 - 30% lượng nước hàng năm) trong đó 3 tháng cạn ổn định chỉ chiếm 5 - 10% lượng nước hàng năm, trong khi có đến 70% nhu cầu nước lại vào mùa cạn. Vì vậy hiện nay trong mùa cạn, có nơi, có thời đoạn, ngay những sông lớn cũng không đủ nước cho nhu cầu sử dụng. Tài nguyên nước ở nước ta được sử dụng chủ yếu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp, cấp nước cho sinh hoạt và thuỷ điện, còn các nhu cầu khác sử dụng chưa nhiều.
5 * Tài nguyên nước sử dụng cho nông nghiệp Bao gồm việc tưới cho hơn 9 triệu ha đất nông nghiệp, cho chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản. Hiện nay cả nước có khoảng 80 hệ thống thuỷ nông lớn, vừa và nhỏ; 700 hồ đập lớn và vừa, 1000 cống tưới tiêu và 2000 trạm bơm loại lớn. Các công trình thuỷ lợi chủ yếu khai thác tài nguyên nước mặt. Để đảm bảo ổn định và tăng sản lượng lương thực bình quân đầu người, cùng với việc tăng diện tích đất canh tác, diện tích gieo trồng, thâm canh, tăng vụ, tăng năng suất thì thuỷ lợi cũng là biện pháp quan trọng đầu tiên.
dự tính đến năm 2020 diện tích đất trồng lúa nước ta sẽ đạt 6,2 triệu ha (tăng 14% so với năm 2000), nhu cầu nước tương ứng sẽ tăng là 72% (khoảng 370 tỷ m3). Trong chăn nuôi gia súc, gia cầm nhu cầu nước uống cho vật nuôi, nước vệ sinh chuồng trại là rất lớn. Dự kiến đến năm 2020 nhu cầu sử dụng n−íc cho chăn nuôi cũng sẽ tăng khoảng 4 đến 5 lần so với năm 2000. Thuỷ sản nước ngọt là một nguồn lợi lớn của nước ta.
Hiện nay cả nước có trên 500 nghìn ha nước mặt, hồ chứa sử dụng cho chăn nuôi thuỷ sản. Lượng nước sử dụng cho việc nuôi thả, thau rửa ao hồ mỗi năm dự tính khoảng 40. Tiềm năng phát triển thuỷ sản nước ngọt của nước ta là rất lớn, hiện nay mới chỉ sử dụng hết khoảng 50%. Dự tính diện tích nuôi trồng thuỷ sản đến năm 2020 sẽ tăng lên gấp 3 lần so với năm 2000.
Ngoài tài nguyên nước mặt, tài nguyên nước ngầm cũng đã được khai thác để tưới cho diện tích đất nông nghiệp, cho chăn nuôi ở nhiều vùng. Đặc biệt cho việc tưới cao su, cà phê vào mùa khô ở các tỉnh vùng núi phía Bắc, miền Trung, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. * Tài nguyên nước sử dụng sản xuất điện Nước ta có tiềm năng thuỷ điện dồi dào, với hơn 2000 sông suối lớn, nhỏ phân bố trên khắp lãnh thổ. Tổng tiềm năng lý thuyết nguồn thuỷ điện nước ta khoảng 308 tỷ Kwh.
Trữ năng kỹ thuật thuỷ điện trên toàn lãnh thổ Việt Nam là 72 tỷ Kwh với công suất từ 10 MW trở lên, có khoảng 360 vị trí lắp đặt máy, tổng công suất 17. Ngoài ra chưa kể đến tiềm năng thuỷ điện nhỏ. Hiện nay sản lượng điện do thuỷ điện phát hàng năm khoảng 23,8 Kwh 6 chiếm 51% tổng sản lượng điện phát ra của cả nước. Hiện nay nhà nước ta có những nhà máy thuỷ điện lớn và vừa: Thác Bà, Hoà Bình, Trị An, Đa Nhim, Thác Mơ, Vĩnh Sơn, Yaly, Đa Mi, Đại Ninh và Sông Hinh… với tổng công suất 18,62 Kwh cấp vào lưới điện quốc gia.
Ngoài ra còn có 13 công trình đang lập báo cáo khả thi để đưa vào xây dựng trong những năm sắp tới với công suất là 6.229 MW và tổng lượng điện phát là 27,6 tỷ Kwh; 6 công trình đề xuất nghiên cứu với công suất là 1.258 MW và tổng lượng điện phát là 5,54 tỷ Kwh; các trạm thuỷ điện nhỏ với công suất là 1.000 MW và tổng lượng điện phát là 2 tỷ Kwh.