MỞ ĐẦU. Tính cấp thiết của đề tài. Tổng quan nghiên cứu. Mục đích, nhiệm vụ đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn. Câu hỏi nghiên cứu. Giả thuyết nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu .13 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI.
Các khái niệm công cụ. Khái niệm nhu cầu. Khái niệm địa chỉ tin cậy. Khái niệm Gia đình.
Khái niệm nạn nhân BLGĐ. Khái niệm hỗ trợ phụ nữ là nạn nhân BLGĐ. Khái niệm BL và BLGĐ, các hình thức BLGĐ. Các lý thuyết vận dụng.
Lý thuyết nhu cầu của Maslow. Lý thuyết nhận thức hành vi. Lý thuyết Xung đột xã hội. Luật bình đẳng giới năm 2006.
Luật phòng, chống bạo lực gia đình 2007. Thông tư quy định quy trình tiếp nhận, chăm sóc y tế và thống kê, báo cáo đối với người bệnh là nạn nhân bạo lực gia đình tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Bộ y tế năm 2017. Thông tư liên tịch 143/2011/TT-BTC-BVHTTDL ngày 21 tháng 10 năm 2011. Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Vài nét về địa bàn nghiên cứu. Vị trí, địa lý. Đặc điểm về kinh tế, chính trị,. Điều kiện tự nhiên.
Lịch sử hình thành. Trình độ nhận thức, hiểu biết của người dân. Quá trình thực thi pháp luật về BLGĐ .41 Tiểu kết chƣơng 1. 42 CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG BLGĐ VÀ NHU CẦU CỦA NẠN NHÂN BLGĐ VỀ ĐỊA CHỈ TIN CẬY TẠI XÃ TIÊN NGUYÊN HUYỆN QUANG BÌNH TỈNH HÀ GIANG.
Đặc điểm của phụ nữ bị BLGĐ. Thực trạng bạo lực gia đình tại xã Tiên Nguyên huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang. Các hình thức bạo lực gia đình trên địa bàn nghiên cứu. Nguyên nhân BLGĐ.
Lý do khiến nạn nhân chấp nhận sống chung với bạo lực. Hậu quả của BLGĐ. Thực trạng về phản ứng của những người có liên quan. Phản ứng của những người trong gia đình.
Phản ứng của cộng đồng, hàng xóm. Phản ứng của chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội. Nhu cầu về địa chỉ tin cậy của phụ nữ bị bạo lực gia đình. Phản ứng của nạn nhân khi có BLGĐ xảy ra.
Nhận thức của phụ nữ bị BLGĐ về địa chỉ tin cậy. Nhu cầu cần hỗ trợ của phụ nữ bị bạo lực gia đình .67 Tiểu kết chƣơng 2. 77 CHƢƠNG 3: VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI VIỆC HÌNH THÀNH CÁC ĐỊA CHỈ TIN CẬY VÀ ĐỀ XUẤT HÌNH THÀNH ĐỊA CHỈ TIN CẬY TẠI XÃ LỒNG GHÉP VAI TRÒ TRONG CÔNG TÁC XÃ HỘI. Đánh giá mức độ nhu cầu của phụ nữ bị BLGĐ về địa chỉ tin cây.
Tính cấp thiết về nhu cầu địa chỉ tin cậy của phụ nữ bị BLGĐ. Đánh giá của những người có liên quan về địa chỉ tin cậy tại cơ sở hỗ trợ nạn nhân bị BLGĐ. Những thuận lợi và khó khăn trong việc hình thành các địa chỉ tin cây tại các thôn81 3. Vai trò của nhân viên CTXH trong lĩnh vực phòng, chống BLGĐ.
Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hình thành các địa chỉ tin cậy. Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong phát triển các hoạt động tại các địa chỉ tin cậy. Đề xuất mô hình “địa chỉ tin cậy lồng ghép vai trò của nhân viên CTXH trợ giúp phụ nữ là nạn nhân BLGĐ. Căn cứ thực hiện:.
Đối tượng hưởng lợi. Nguồn lực thực hiện. Quy trình thành lập (căn cứ tài liệu xây dựng và triển khai hoạt động địa chỉ tin cậy ở cộng đồng của luật phòng chống BLGĐ năm 2007). Nguyên tắc hoạt động hỗ trợ tại các “địa chỉ tin cậy”.
Miêu tả mô hình “địa chỉ tin cậy” đề xuất.91 Tiểu kết chƣơng 3. 95 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ. 96 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 102 z DANH MỤC VIẾT TẮT 1.
BL: Bạo lực 2. BLGĐ: Bạo lực gia đình 3. ĐCTC: Địa chỉ tin cậy 4. CTXH: Công tác xã hội 5.
NVCTXH: Nhân viên Công tác xã hội 6. NVXH: Nhân viên xã hội 7. PN: Phụ nữ 8. WB: Ngân hàng thế giới 9.
UNICEF: Quỹ nhi đồng liên hợp quốc z DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH BẢNG Bảng 2.1: Trình độ học vấn của nhóm phụ nữ bị BLGĐ (N = 168) .2: BLGĐ và phân loại theo dân tộc và nghề nghiệp (Điều tra số liệu thống kê qua các năm 2013, 2014, 2015, 2016 và đầu nằm 2017 của Hội liên hiệp phụ nữ xã) .3: BLGĐ và các hình thức BLGĐ .4: BLGĐ và các biện pháp xử lý .5: Phản ứng của nhóm phụ nữ bị BLGĐ trước và sau khi bị .6: Nhu cầu cần hỗ trợ của nạn nhân BLGĐ (N = 168) .1: Tình trạng BLGĐ .2: Tình trạng hôn nhân và BLGĐ của nhóm phụ nữ bị BL .3: Nguyên nhân dẫn đến BLGĐ tại xã Tiên Nguyên, N = 168 .4: Hậu quả của BLGĐ .5: Bảng biểu so sánh sự can thiệp của các bên với kỳ vọng của nạn nhân (N = 168) .6: Tỉ lệ hiểu biết pháp luật và mong muốn về hiểu biết pháp luật của nhóm phụ nữ bị BLGĐ: .1: Hiểu biết về địa chỉ tin cậy của nhóm phụ nữ không bị. 79 HÌNH Hình 1 Theo thang nhu cầu của Maslov. Tính cấp thiết của đề tài Gia đình là tế bào của xã hội, là tổng hợp tổng hợp các mối quan hệ ứng xử, giá trị nhân cách, là nơi con người được sinh ra, lớn lên và được chia sẻ những vui buồn trong cuộc sống. Gia đình có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi cá nhân và cả xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói trong bài nói chuyện tại Hội nghị thảo luận dự thảo Luật Hôn nhân - Gia đình (tháng 1-1959) rằng: “Rất quan tâm đến gia đình là đúng vì nhiều gia đình cộng lại mới tạo nên được xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt”. Trong cái tế bào gia đình ấy thì người phụ nữ luôn được coi là “người giữ lửa” duy trì sự đầm ấm, hạnh phúc của mỗi gia đình. Cùng với sự phát triển của xã hội, người phụ nữ Việt Nam hiện nay đã và đang ngày càng khẳng định được vị thế, tài năng và vai trò của mình không chỉ trong gia đình mà còn nhiều lĩnh vực khác trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, họ cũng phải đối mặt với rất nhiều vấn đề khác nhau trong cuộc sống trong việc chăm sóc con cái, công việc và giữ gìn hạnh phúc gia đình.
Họ phải chịu đựng những nỗi đau khác nhau về thể chất và tinh thần. Đó chính là vấn đề BLGĐ BLGĐ là vấn đề mà cả xã hội đang rất quan tâm, nó ảnh hưởng tới đời sống của rất nhiều người mà đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Gây nhức nhối cho nhân loại, để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho con người, nhất là đối với phụ nữ, trẻ em (GiadinhNet). Bạo lực gia đình đem đến nhiều hậu quả nặng nề về cả thể xác và tinh thần đối với con người (Ngô Sỹ Bình - Lớp BCK09 - khoa Báo chí & Truyền thông - Trƣờng ĐHKHXH&NV – ĐHQGTPHCM) Theo thống kê của Vụ Gia đình (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) 5 năm trở lại đây, số vụ bạo lực gia đình được ghi nhận khoảng 20.000 vụ/năm và mức độ bạo lực ngày càng nghiêm trọng.
Ngay từ năm 2014, báo cáo của các tổ chức phi chính phủ đã chỉ ra cứ 2-3 ngày ở Việt Nam lại có một người bị giết liên quan đến bạo lực gia đình, trong đó đa phần là phụ nữ và trẻ em. Riêng trong năm 2015 có 31 phụ nữ, 7 trẻ em bị người thân giết hại. Theo con số thống kê chưa đầy đủ, 6 tháng đầu năm đã có hơn 20 phụ nữ và trẻ em thiệt mạng do bạo lực gia đình. 1 z Còn Theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, trung bình một năm trên cả nước có tới 8.000 vụ ly hôn mà nguyên nhân do bạo lực gia đình.
Cũng theo số liệu thống kê của bệnh viện, các trung tâm, phòng cấp cứu lớn của cả nước, có hơn 27% phụ nữ bị ngược đãi nhập viện, hơn 10% điều trị y khoa nghiêm trọng hằng năm do nguyên nhân bạo lực gia đình. Ở Việt Nam, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã dành nhiều sự quan tâm tới việc phòng, chống bạo lực gia đình và đã ban hành nhiều Khoản luật, điều Luật trực tiếp và gián tiếp như: Hiến pháp, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Bộ luật Dân sự,.và đặc biệt Luật phòng, chống bạo lực gia đình 2007. Những văn bản này đã tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong đời sống xã hội trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình. Trong đó quy định về giải pháp can thiệp BLGĐ tại cơ sở thông qua hệ thống các “địa chỉ tin cậy”.
Mô hình là một tổ chức hoạt động xã hội tình nguyện tại cộng đồng với nội dung gồm các hoạt động như: Tiếp nhận, hỗ trợ và thông báo kịp thời cho nạn nhân bị bạo lực; bảo đảm an toàn cho nạn nhân; bảo đảm bí mật thông tin về người báo tin và nạn nhân. Đây cũng là nơi để các hội viên phụ nữ gặp gỡ, chia sẻ, tháo gỡ những mối bất hòa của nạn nhân. Đồng thời, tuyên truyền nâng cao ý thức của cộng đồng và vai trò của mỗi người dân trong công tác phòng chống bạo lực gia đình, giữ gìn an ninh trật tự đã đem đến những kết quả đáng kể và cũng là biện pháp hiệu quả giảm thiểu các vụ BLGĐ trên cả nước. Tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan thì các quy phạm pháp luật này chưa thực sự đi vào cuộc sống, sự quan tâm và hiểu biết của đối tượng thụ hưởng về lĩnh vực này chưa đi vào chiều sâu, do sự triển khai của các cấp có thẩm quyển và nhận thức của người dân về vai trò của mô hình và BLGĐ còn hạn chế.
Do đó chưa phát huy được hiệu quả thực sự tại nhiều địa phương. Do vậy, tình trạng bạo lực trong gia đình chưa có nhiều thay đổi, chuyển biến tích cực và hơn thế nữa nó dần trở thành như một hiện tượng của xã hội. Theo thống kê năm 2016 của Hội nông dân, Việt Nam có khoảng 23 triệu hộ, trong đó số hộ ở nông thôn cao gấp hơn 2 lần số hộ ở thành thị.