Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA THẨM PHÁN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. KHÁI NIỆM NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA THẨM PHÁN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ Đội ngũ Thẩm phán ra đời khá muộn mặc dù nhiệm vụ xét xử đã có từ rất lâu và không thể thiếu trong bộ máy nhà nước. Trong các xã hội tiền tư bản, nhà vua là người đại diện cho pháp luật đồng thời có quyền xét xử. Vua là chủ thể nắm giữ cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; vua đích thân xét xử các tranh chấp trong nhân dân, trực tiếp trừng phạt các hành vi vi phạm pháp luật.
Cùng với sự phát triển của xã hội, do nhu cầu phân công giải quyết các công việc của Nhà nước, vua đã chuyển một phần quyền tư pháp cho quan lại từ trung ương xuống địa phương thực hiện. Các quan lại đó chính là những quan lại hành chính. Khi đó, quyền tư pháp chưa được tách khỏi quyền lập pháp và quyền hành pháp. Đến thời kỳ cách mạng tư sản, một số học giả mà tiêu biểu là Môngtexkiơ đã đề ra tư tưởng phân chia quyền lực, trong đó tách quyền tư pháp ra khỏi quyền lập pháp và quyền hành pháp, thành lập một hệ thống cơ quan độc lập thực hiện quyền tư pháp - đó là Tòa án.
Từ đó, một đội ngũ Thẩm phán những người chuyên làm nhiệm vụ xét xử, tách biệt với những người làm việc trong bộ máy hành chính ra đời. Cho tới ngày nay đội ngũ Thẩm phán đã tham gia xét xử vào tất cả các vụ việc phát sinh tại Tòa án, đáp ứng được yêu cầu phát triển của nền kinh tế, xã hội. Theo Từ điển Luật học năm 2006 và Pháp lệnh Thẩm phán và HTND (HTND) năm 2002 thì "Thẩm phán là người tiến hành tố tụng được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử các vụ án và giải quyết các việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án". Như vậy, Thẩm phán là người được Nhà nước bổ nhiệm nếu đáp ứng các tiêu chuẩn do pháp luật quy định 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và được Nhà nước giao nhiệm vụ giải quyết những vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án.
Trong TTDS, Thẩm phán là người tiến hành tố tụng chủ yếu, tham gia vào tất cả các giai đoạn của quá trình giải quyết vụ việc dân sự và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong giải quyết vụ việc dân sự. Ở nước ta hiện nay, theo Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thẩm phán và HTND ngày 19/02/2011, Thẩm phán Tòa án nhân dân (TAND) bao gồm: Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp và Thẩm phán Tòa án quân sự (bao gồm Thẩm phán Tòa án quân sự Trung ương đồng thời là Thẩm phán TANDTC, Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp). Thẩm phán nhân danh quyền lực nhà nước ra phán quyết và khi bản án có hiệu lực pháp luật thì tất cả mọi cơ quan nhà nước, các tổ chức và mọi công dân đều phải chấp hành. Mọi phán quyết của Thẩm phán đều ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Do đó, việc xác định trách nhiệm của Thẩm phán gắn liền với quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong TTDS là rất cần thiết. Ở mỗi chế độ xã hội khác nhau, nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán cũng khác nhau. Nó phản ánh bản chất chính trị của chế độ trong những bối cảnh lịch sử cụ thể. Không chỉ Thẩm phán mà bất cứ cán bộ, công chức nào khi thực hiện một công việc đều phải thực hiện trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn nhất định được Nhà nước trao.
Vậy nhiệm vụ, quyền hạn được hiểu như thế nào rất cần được làm rõ. Qua nghiên cứu Từ điển Tiếng Việt năm 2001, nhiệm vụ là công việc phải làm vì một mục đích và trong một thời gian nhất định (thường nói về công việc xã hội) [66, tr. Theo Từ điển Tiếng Việt năm 2009, "nhiệm vụ" được hiểu là công việc do cơ quan, đơn vị hoặc tổ chức giao cho phải làm vì một mục đích và trong một thời gian nhất định [56, tr. Có thể nói, nhiệm vụ của một chủ thể xuất phát từ tư cách chủ thể trong quan hệ xã hội mà chủ thể đó tham gia và được pháp luật quy định.
Chính vì vậy, nhiệm vụ của Thẩm phán được pháp luật quy định cũng xuất phát từ tư cách của Thẩm phán trong 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hệ thống bộ máy nhà nước. Chúng ta có thể hiểu nhiệm vụ của Thẩm phán trong TTDS là công việc mà Thẩm phán phải tiến hành trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự vì mục đích đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc được khách quan, đúng pháp luật và trong một thời hạn do pháp luật quy định [14, tr. Nhiệm vụ của Thẩm phán được xác định mang tính bắt buộc khi giải quyết vụ việc dân sự. Quá trình giải quyết vụ việc dân sự Thẩm phán phải thực hiện chính xác về thủ tục tố tụng và đúng nội dung vụ việc.
Vậy để Thẩm phán có thể thực hiện các nhiệm vụ trong hoạt động TTDS thì pháp luật TTDS cần trao cho Thẩm phán những quyền hạn cụ thể. Theo Từ điển Tiếng Việt năm 2001, quyền hạn là quyền được xác định về nội dung, phạm vi, mức độ [66, tr. Từ điển Tiếng Việt năm 2009, "quyền hạn" được hiểu là quyền được xác định trong phạm vi cho phép [56, tr. Còn theo Từ điển Luật học năm 2006, quyền hạn của một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được xác định theo phạm vi nội dung, lĩnh vực hoạt động, cấp và chức vụ, vị trí công tác và trong phạm vi không gian, thời gian nhất định theo quy định của pháp luật [65, tr.
Như vậy, quyền của chủ thể được xác định dựa trên cơ sở cương vụ, chức vụ mà chủ thể đó đảm nhiệm. Quyền hạn của Thẩm phán trong TTDS là phạm vi những công việc mà Thẩm phán được thực hiện trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của pháp luật [14, tr. Nếu như nhiệm vụ là những công việc Thẩm phán bắt buộc phải thực hiện thì quyền hạn của Thẩm phán là quyền chủ động thực hiện nhiệm vụ của mình. Khi giải quyết vụ việc dân sự, trên cơ sở nhiệm vụ mà BLTTDS quy định, Thẩm phán có quyền lựa chọn cách thức, thời gian, biện pháp để thực hiện nhiệm vụ nhằm giải quyết vụ việc dân sự khách quan, đúng pháp luật.
Từ những nhận định trên chúng ta có thể khẳng định quyền hạn của một chủ thể được pháp luật quy định chính là quyền của chủ thể đó được sử dụng để thực hiện chức năng, trách nhiệm nhất định. Pháp luật quy định Thẩm phán có nhiệm vụ thực hiện những công việc gì thì pháp luật phải trao 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cho Thẩm phán những quyền hạn để thực hiện nhiệm vụ đó. Thực tế, ranh giới giữa nhiệm vụ và quyền hạn khó có thể tách bạch rõ ràng, dễ nhầm lẫn. Vì vậy, khi soạn thảo và ban hành văn bản pháp luật, các nhà lập pháp đã không tách nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán thành các điều luật riêng biệt.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán nói chung được quy định chủ yếu trong Pháp lệnh Thẩm phán và HTND. Còn trong TTDS, nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán đều được quy định chung tại Điều 41 BLTTDS. Mặt khác, quyền hạn và trách nhiệm là hai phạm trù không thể tách rời. Trách nhiệm của Thẩm phán chỉ xác định được khi gắn với nhiệm vụ và quyền hạn nhất định.
Ngược lại khi Thẩm phán được pháp luật giao những quyền hạn nhất định để thực hiện nhiệm vụ thì cần có một cơ chế xác định việc thực hiện đó có đúng và chính xác không để xác định trách nhiệm. Dù bất cứ công việc nào cũng đều đòi hỏi người thực hiện phải có trách nhiệm. Đặc biệt trong hoạt động xét xử đòi hỏi trách nhiệm của Thẩm phán cao hơn nhiều bởi xét xử là hoạt động mang tính quyết định. Đối với các vụ việc dân sự mỗi phán quyết của Thẩm phán đều có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, ảnh hưởng đến tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật.
Do đó nhằm ngăn ngừa sự lạm quyền và những hành vi trái pháp luật khi tăng cường sự độc lập của Thẩm phán, mở rộng quyền hạn của họ trong việc giải quyết các vụ việc dân sự thì càng cần phải đề cao trách nhiệm của họ. Vì vậy, ngoài việc xác định nhiệm vụ, quyền hạn việc xác định cụ thể trách nhiệm của Thẩm phán trong TTDS là rất cần thiết. Thẩm phán là một công chức nhà nước nên ngoài trách nhiệm đối với Nhà nước như công chức khác, Thẩm phán còn có trách nhiệm riêng biệt gắn liền với nhiệm vụ, quyền hạn của họ trong hoạt động TTDS. Theo Từ điển Tiếng Việt năm 2001, trách nhiệm là phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả (trách nhiệm làm cha mẹ, giám đốc xí nghiệp, ý thức trách nhiệm); là sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình bảo 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đảm đúng đắn, nếu có gì sai trái thì phải gánh chịu phần hậu quả [66, tr.
Trách nhiệm chính là hậu quả của việc thực hiện không đúng, không đầy đủ nhiệm vụ do pháp luật quy định hoặc do các bên thỏa thuận. Trách nhiệm của Thẩm phán nói chung được quy định tại Pháp lệnh Thẩm phán và HTND, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự (BLDS), Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và nhiều văn bản pháp luật có liên quan. BLTTDS chỉ quy định trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành TTDS chung tại Điều 13 chứ không quy định cụ thể trách nhiệm của Thẩm phán. Với các quy định tại các văn bản nói trên chúng ta có thể hiểu trách nhiệm của Thẩm phán trong TTDS là hậu quả pháp lý mà Thẩm phán phải gánh chịu do không thực hiện đúng các quy định của BLTTDS và các quy định pháp luật về nội dung khi giải quyết vụ việc dân sự.
Thông qua các quy định của pháp luật, trách nhiệm của Thẩm phán trong TTDS được chia làm hai loại. Thứ nhất: trách nhiệm phải đảm bảo hoàn thành việc giải quyết vụ việc dân sự khi được chánh án phân công (trách nhiệm trong TTDS).