Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố nguy cơ gây nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ từ 2 tháng đến 15 tuổi tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên

Luận văn: Nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên - BSNT Nguyễn Thị Tuyết Minh

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các yếu tố nguy cơ gây nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ từ 2 tháng đến 15 tuổi tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên.

Trường đại học

Trường Đại học Y - Dược, Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Nhi khoa

Tác giả

Nguyễn Thị Tuyết Minh

Thể loại

Luận văn bác sĩ nội trú

2024

108
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ tại Bệnh viện Thái Nguyên

Nhiễm khuẩn tiết niệu là bệnh lý nhiễm trùng thường gặp ở trẻ em. Đây là nguyên nhân phổ biến thứ ba gây sốt sau nhiễm khuẩn hô hấp và tiêu hóa. Nghiên cứu tại Trung tâm Nhi khoa thuộc Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên đã ghi nhận 139 bệnh nhi từ 2 tháng đến 15 tuổi mắc bệnh. Tỷ lệ mắc bệnh có sự khác biệt rõ rệt theo lứa tuổi và giới tính. Trẻ nhỏ dưới 24 tháng tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 47,5%. Trẻ từ 24 đến dưới 60 tháng tuổi chiếm 27,3%. Nhóm trẻ từ 5 đến 15 tuổi chiếm 25,2%. Về phân bố địa dư, trẻ sống tại nông thôn chiếm 54,7% và thành thị chiếm 45,3%. Tỷ lệ trẻ gái mắc bệnh cao hơn đáng kể so với trẻ trai trong hầu hết các nhóm tuổi. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ cấu trúc giải phẫu niệu đạo ngắn và gần hậu môn của trẻ gái. Bệnh lý này nếu không được phát hiện kịp thời sẽ để lại nhiều biến chứng nặng nề. Các tổn thương sẹo thận có thể dẫn đến suy thận mạn tính hoặc tăng huyết áp trong tương lai. Do đó, việc nắm vững đặc điểm dịch tễ giúp nâng cao hiệu quả chẩn đoán sớm.

1.1. Phân bố theo độ tuổi và giới tính của bệnh nhi

Độ tuổi mắc bệnh tập trung nhiều nhất ở nhóm trẻ dưới 2 tuổi. Ở lứa tuổi này, hệ thống miễn dịch chưa phát triển hoàn thiện. Khả năng sản xuất kháng thể bảo vệ còn rất hạn chế. Đồng thời, niêm mạc bàng quang có sức đề kháng yếu trước các tác nhân gây bệnh. Tỷ lệ trẻ gái mắc bệnh vượt trội so với trẻ trai sau 1 tuổi. Niệu đạo của bé gái có cấu trúc thẳng, ngắn và nằm gần lỗ hậu môn. Đặc điểm này tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn đường tiêu hóa xâm nhập ngược dòng. Trẻ trai dưới 1 tuổi cũng có nguy cơ cao nếu bị hẹp bao quy đầu. Tình trạng ứ đọng nước tiểu là môi trường lý tưởng để vi khuẩn sinh sôi.

1.2. Phân bố vị trí tổn thương của hệ tiết niệu

Nhiễm khuẩn tiết niệu được phân loại thành nhiễm khuẩn đường tiết niệu trên và dưới. Nghiên cứu thực tế cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn tiết niệu dưới chiếm đa số với 95,7%. Tổn thương chủ yếu tập trung tại vùng bàng quang và niệu đạo. Nhiễm khuẩn tiết niệu trên chỉ chiếm tỷ lệ 4,3% với các tổn thương tại đài bể thận. Sự phân bố vị trí tổn thương giữa các nhóm tuổi không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, nhiễm khuẩn đường tiết niệu trên tiềm ẩn nhiều rủi ro nghiêm trọng hơn. Vi khuẩn tấn công trực tiếp vào nhu mô thận gây viêm thận bể thận cấp. Nếu không điều trị dứt điểm, tổn thương có thể để lại sẹo thận vĩnh viễn cho trẻ.

II. Phân tích lâm sàng nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ tại Thái Nguyên

Biểu hiện lâm sàng của bệnh nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ em rất phong phú và biến đổi theo từng lứa tuổi. Sốt là triệu chứng phổ biến nhất và xuất hiện ở hầu hết các bệnh nhi. Nghiên cứu ghi nhận 91,4% trẻ có biểu hiện sốt cao từ 38,5°C trở lên. Đáng chú ý, 79,1% bệnh nhi có triệu chứng sốt kèm theo rét run hoặc quấy khóc, kích thích. Tỷ lệ sốt kèm theo co giật chiếm 10,8%, chủ yếu tập trung ở nhóm trẻ dưới 5 tuổi. Trẻ càng nhỏ tuổi thì triệu chứng lâm sàng càng không điển hình. Ở trẻ dưới 2 tuổi, dấu hiệu gợi ý thường chỉ là quấy khóc vô cớ, bỏ bú và nôn trớ. Các triệu chứng rối loạn tiểu tiện như tiểu buốt hay tiểu rắt rất khó nhận biết ở nhóm tuổi này. Ngược lại, trẻ lớn từ 5 tuổi trở lên biểu hiện các rối loạn đường tiểu rõ ràng hơn. Tỷ lệ trẻ lớn bị tiểu buốt và tiểu rắt chiếm lần lượt là 7,2% và 8,6%. Ngoài ra, một số ít trường hợp xuất hiện nước tiểu đục hoặc tiểu máu vi thể. Sự mơ hồ trong triệu chứng ở trẻ nhỏ là nguyên nhân chính dẫn đến chẩn đoán muộn.

2.1. Biểu hiện sốt và các triệu chứng toàn thân

Sốt là phản ứng toàn thân điển hình nhất khi trẻ bị nhiễm khuẩn tiết niệu. Phần lớn bệnh nhi nhập viện với tình trạng sốt cao liên tục trên 38,5°C. Cơn sốt thường đi kèm với các dấu hiệu thần kinh thực vật như rét run, run giật hoặc vã mồ hôi. Trẻ nhũ nhi biểu hiện tình trạng nhiễm trùng qua vẻ mặt mệt mỏi, quấy khóc dai dẳng và da xanh tái. Một số trẻ có phản ứng sốt cao co giật khiến người nhà vô cùng lo lắng. Sốt kéo dài không rõ nguyên nhân luôn là dấu hiệu chỉ điểm cần kiểm tra nước tiểu. Nhiều trường hợp sốt đơn thuần không kèm theo ho hay chảy mũi rất dễ bị bỏ sót. Bệnh nhân thường bị nhầm lẫn với các đợt sốt virus thông thường.

2.2. Triệu chứng cơ năng và rối loạn bài xuất nước tiểu

Rối loạn bài xuất nước tiểu phản ánh tình trạng kích thích niêm mạc đường tiết niệu dưới. Trẻ lớn có khả năng diễn đạt sẽ than phiền về cảm giác đau rát khi đi tiểu. Dấu hiệu tiểu dắt biểu hiện qua việc trẻ đi tiểu nhiều lần nhưng lượng nước tiểu mỗi lần rất ít. Ở trẻ nhỏ chưa biết nói, trẻ thường có biểu hiện rặn tiểu, khóc thét khi đi tiểu hoặc nắm chặt bộ phận sinh dục. Nước tiểu của trẻ có thể bị đục, có cặn lắng hoặc mùi khai nồng bất thường. Tỷ lệ tiểu máu ít gặp nhưng cảnh báo tình trạng viêm xuất huyết nặng. Những triệu chứng cơ năng này tuy có độ nhạy không cao ở trẻ nhỏ nhưng lại có giá trị định khu tổn thương rất tốt ở trẻ lớn.

III. Phương pháp chẩn đoán nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ tại bệnh viện

Quy trình chẩn đoán nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ em đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa lâm sàng và cận lâm sàng. Bác sĩ cần chỉ định xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu ngay khi nghi ngờ. Sự hiện diện của bạch cầu niệu và nitrit trong nước tiểu là hai chỉ số sàng lọc quan trọng. Xét nghiệm cấy nước tiểu là tiêu chuẩn vàng để xác định căn nguyên gây bệnh. Phương pháp lấy nước tiểu giữa dòng hoặc qua ống thông bàng quang phải tuân thủ nghiêm ngặt kỹ thuật vô khuẩn. Việc này giúp tránh hiện tượng ngoại nhiễm vi khuẩn từ da và cơ quan sinh dục ngoài. Song song với cấy vi khuẩn, siêu âm hệ tiết niệu là giải pháp hình ảnh học ban đầu không xâm lấn. Siêu âm giúp đánh giá kích thước thận, độ dày thành bàng quang và phát hiện ứ nước đài bể thận. Kỹ thuật này cũng hỗ trợ phát hiện các dị tật bẩm sinh như luồng trào ngược bàng quang niệu quản hay van niệu đạo sau. Định lượng các chỉ số viêm như protein phản ứng C và tốc độ lắng máu giúp đánh giá mức độ nhiễm trùng toàn thân.

3.1. Xét nghiệm nước tiểu và phân lập vi khuẩn gây bệnh

Xét nghiệm nước tiểu đóng vai trò quyết định trong xác lập chẩn đoán bệnh. Tổng phân tích nước tiểu cho phép phát hiện sớm tế bào bạch cầu và vi khuẩn. Kết quả cấy nước tiểu dương tính khẳng định chẩn đoán khi số lượng khuẩn lạc đạt ngưỡng quy chuẩn. Trực khuẩn Escherichia coli là tác nhân hàng đầu gây nhiễm khuẩn đường tiểu ở trẻ. Vi khuẩn này chiếm tỷ lệ vượt trội nhờ các yếu tố bám dính đặc hiệu trên niêm mạc. Kháng sinh đồ từ kết quả nuôi cấy cung cấp dữ liệu sống còn cho điều trị. Xét nghiệm này giúp bác sĩ lựa chọn kháng sinh nhạy cảm thích hợp. Việc dùng kháng sinh đúng phác đồ ngăn chặn tình trạng kháng thuốc lan rộng trong cộng đồng.

3.2. Ứng dụng chẩn đoán hình ảnh và tầm soát dị tật

Chẩn đoán hình ảnh giữ vị trí trung tâm trong việc tìm kiếm nguyên nhân gây bệnh. Mọi trẻ nhỏ bị nhiễm khuẩn tiết niệu lần đầu đều cần được siêu âm hệ tiết niệu. Siêu âm giúp phát hiện sớm tình trạng thận ứ nước, sỏi tiết niệu hoặc dị dạng bẩm sinh. Chụp bàng quang niệu quản khi đi tiểu được chỉ định trong các trường hợp nghi ngờ trào ngược. Kỹ thuật này phát hiện luồng trào ngược bàng quang niệu quản ngược dòng lên thận. Xạ hình thận DMSA là phương pháp đánh giá tổn thương nhu mô và sẹo thận chính xác nhất. Phát hiện sớm các dị tật giải phẫu giúp can thiệp ngoại khoa kịp thời. Điều này bảo vệ tối đa chức năng lọc của thận khi trẻ trưởng thành.

IV. Kết luận nghiên cứu nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ tại Thái Nguyên

Nghiên cứu về bệnh lý nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên mang lại nhiều giá trị thực tiễn quan trọng. Bệnh gặp chủ yếu ở lứa tuổi nhũ nhi và trẻ nhỏ dưới hai tuổi. Đa số trường hợp là nhiễm khuẩn tiết niệu dưới với các biểu hiện toàn thân rầm rộ như sốt cao và quấy khóc. Việc chẩn đoán sớm đòi hỏi nhân viên y tế phải luôn cảnh giác trước mọi trường hợp sốt chưa rõ nguyên nhân. Phác đồ điều trị cần được khởi động nhanh chóng ngay sau khi lấy mẫu nước tiểu xét nghiệm. Lựa chọn kháng sinh ban đầu nên dựa trên mô hình dịch tễ vi khuẩn tại địa phương trước khi có kết quả kháng sinh đồ. Bên cạnh điều trị nội khoa, việc tầm soát dị tật đường tiết niệu đóng vai trò quyết định ngăn ngừa tái phát. Gia đình và nhân viên y tế cần phối hợp chặt chẽ trong chăm sóc vệ sinh thân thể cho trẻ. Hướng dẫn cha mẹ vệ sinh đúng cách từ trước ra sau giúp giảm thiểu nguy cơ vi khuẩn xâm nhập. Trẻ cần được theo dõi định kỳ để đánh giá nguy cơ sẹo thận lâu dài.

4.1. Khuyến nghị lâm sàng trong điều trị và dùng kháng sinh

Điều trị kháng sinh kịp thời là yếu tố tiên quyết nhằm hạn chế biến chứng tổn thương thận. Bác sĩ nên ưu tiên kháng sinh đường tĩnh mạch cho trẻ dưới 2 tháng tuổi hoặc trẻ nôn nhiều. Trẻ có sốt cao kèm dấu hiệu nhiễm độc toàn thân cũng cần dùng kháng sinh đường tiêm. Khi có kết quả kháng sinh đồ, phác đồ cần được điều chỉnh theo độ nhạy cảm của vi khuẩn. Thời gian điều trị kháng sinh kéo dài từ 7 đến 14 ngày tùy thuộc vào vị trí nhiễm trùng. Tránh tình trạng lạm dụng kháng sinh phổ rộng khi chưa có bằng chứng vi sinh rõ ràng. Việc tái khám sau khi kết thúc đợt điều trị giúp xác nhận vi khuẩn đã được loại trừ hoàn toàn.

4.2. Giải pháp phòng ngừa và theo dõi biến chứng lâu dài

Phòng ngừa tái phát là mục tiêu quan trọng trong chăm sóc trẻ sau điều trị nhiễm khuẩn tiết niệu. Cha mẹ cần duy trì thói quen vệ sinh vùng sinh dục đúng cách hàng ngày cho trẻ. Luôn lau chùi từ trước ra sau đối với trẻ gái để tránh lây nhiễm vi khuẩn từ hậu môn. Khuyến khích trẻ uống đủ nước và hình thành thói quen không nhịn tiểu. Điều trị triệt để chứng táo bón vì táo bón là yếu tố làm tăng nguy cơ nhiễm trùng tiết niệu. Những trẻ có dị tật trào ngược bàng quang niệu quản cần được dùng kháng sinh dự phòng theo chỉ định. Theo dõi huyết áp và chức năng thận định kỳ giúp phát hiện sớm nguy cơ sẹo thận mạn tính.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

17/10/2026
Đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và một số yếu tố nguy cơ gây nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ từ 2 tháng đến 15 tuổi tại bệnh viện trung ương thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Đại cương nhiễm khuẩn tiết niệu trẻ em 1. Định nghĩa nhiễm khuẩn tiết niệu trẻ em Nhiễm khuẩn tiết niệu (NKTN) là một thuật ngữ để chỉ các tình trạng viêm nhiễm ở hệ thống tiết niệu, đặc trưng bởi tăng số lượng vi khuẩn và bạch cầu niệu một cách bất thường nhưng không bao gồm các bệnh viêm đường tiết niệu do các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục như lậu, giang mai10. Giải phẫu hệ tiết niệu Đặc điểm bệnh lý thận tiết niệu trẻ em có liên quan nhiều đến đặc điểm giải phẫu, sinh lý hệ thận – tiết niệu đặc biệt thời kì cấu tạo giải phẫu và chức năng sinh lý chưa trưởng thành1.

Hệ tiết niệu bao gồm: thận, niệu quản, bàng quang, niệu đạo. - Thận trái thường lớn và nằm cao hơn thận phải. Chiều dài của thận tương đương với độ dài của 4 đốt sống thắt lưng đầu tiên cho bất kỳ lứa tuổi nào và không khác biệt giữa trai và gái. Mỗi thận có từ 10 – 12 đài thận, thường được sắp xếp làm 3 nhóm: trên, giữa và dưới.

Hình dáng của đài bể thận rất khác nhau và thay đổi theo từng lứa tuổi. Bể thận của trẻ sơ sinh và trẻ còn bú tương đối rộng, càng phát triển thì càng trở nên tương đối hẹp hơn1. - Niệu quản trẻ sơ sinh đi ra từ bể thận là một góc vuông, còn ở trẻ lớn là một góc tù. Niệu quản trẻ em có đường kính tương đối lớn và dài nên dễ bị gấp hoặc xoắn1.

- Bàng quang ở trẻ nhỏ nằm cao hơn người lớn, chủ yếu nằm ngoài hố chậu nhỏ nên dễ sờ thấy cầu bàng quang. Dung tích bàng quang thay đổi theo lứa tuổi1. Thần kinh bàng quang xuất phát từ đám rối hạ vị và từ các dây thần kinh cùng S3 – S4 để tạo thành đám rối bàng quang. Các chức phận bàng quang 4 được điều khiển từ 3 trung tâm chính là: trung tâm phản xạ tuỷ sống, trung tâm phản xạ ở đại não và trung tâm hữu ý ở đại não.

Ngoài ra, sau này người ta còn nói đến trung tâm tự động ở vách bàng quang1. - Chiều dài niệu đạo từ lúc đẻ ra cho đến tuổi dậy thì của bé gái tăng từ 2 – 4 cm, bé trai tăng từ 6 – 15 cm. Ở trẻ, bàng quang nằm cao nên niệu đạo tương đối dài. Do niệu đạo trẻ gái ngắn và hướng thẳng hơn trẻ trai và nằm gần lỗ hậu môn nên dễ gây NKTN ngược dòng hơn1.

Hình ảnh giải phẫu hệ tiết niệu trẻ em “Nguồn: https://embarrassingproblems.com/urinary/basic-anatomy- of-the-urinary-system” 1. Đường xâm nhập của vi khuẩn vào hệ thống tiết niệu Vi khuẩn có thể xâm nhập hệ thống tiết niệu qua 4 con đường:  Đường máu.  Đường ngược dòng.  Đường bạch huyết.

 Đường kế cận. Trong đó đường ngược dòng là chủ yếu. Vi khuẩn từ ruột qua hậu môn rồi đến định cư ở vùng quanh niệu đạo đi vào bàng quang và đài bể thận trong 5 những điều kiện thuận lợi1. Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ vi khuẩn ở ruột cũng có thể theo đường máu hoặc bạch huyết gây nhiễm khuẩn máu và gây tổn thương ở nhu mô thận.

Trong một nghiên cứu hồi cứu, 12,4% mẫu cấy máu từ trẻ sơ sinh nhập viện vì nhiễm trùng tiểu dương tính với nhiễm khuẩn huyết11. Mặc dù nước tiểu là một môi trường thuận lợi cho sự sinh trưởng của vi khuẩn và về mặt giải phẫu hệ thống tiết niệu ở cận kề ruột và hậu môn, nhưng ở người bình thường nước tiểu là vô khuẩn. Đó là nhờ các cơ chế đề kháng tự nhiên của cơ thể. Đường tiểu bình thường cho phép sự dẫn lưu nước tiểu một cách dễ dàng và triệt để.

Chiều dài niệu đạo cũng cản trở sự xâm nhập của vi khuẩn vào bàng quang, hơn nữa đoạn nối niệu quản – bàng quang chống lại luồng trào ngược. Nhờ có các nhu động của niệu quản, nước tiểu được bài xuất liên tục từ bể thận xuống bàng quang, khi bàng quang đầy nước tiểu sẽ được thải ra ngoài hoàn toàn qua động tác đái. Thêm vào đó các đáp ứng miễn dịch tại chỗ (các IgA tiết, các đáp ứng viêm tại chỗ), bong các tế bào biểu mô đã bị vi khuẩn dính vào và các đáp ứng miễn dịch huyết thanh là các globulin miễn dịch, bổ thể. Ngoài ra, trong thành phần nước tiểu cũng có một số yếu tố ngăn cản sự phát triển của vi khuẩn như nồng độ thẩm thấu cao, nồng độ urê cao, pH nước tiểu thấp có sự chuyển đổi tự nhiên các acid hữu cơ yếu thành dạng kết hợp.

Chỉ khi các yếu tố bảo vệ này của hệ tiết niệu bị thay đổi mới có sự xâm nhập và gây bệnh của vi khuẩn. Phân loại Có nhiều cách phân loại NKTN đang được áp dụng. * Về lâm sàng có thể chia NKTN thành 2 nhóm lớn: - NKTN có triệu chứng lâm sàng. Trong nhóm NKTN có triệu chứng lại được chia thành viêm bàng quang (hay NKTN dưới) và viêm thận – bể thận (hay NKTN trên)10.

6 - NKTN tiềm tàng hay vi khuẩn niệu không triệu chứng: không có triệu chứng lâm sàng, bạch cầu niệu âm tính, cấy nước tiểu 2 lần đều thấy vi khuẩn niệu dương tính10. - Ngoài ra còn có NKTN không đặc hiệu chiếm 10 – 20%10. * Về nguyên nhân, có thể chia NKTN thành hai loại: - NKTN kết hợp (có biến chứng) với một bệnh tiết niệu hay còn gọi là NKTN thứ phát. Các bệnh tiết niệu thường là luồng trào ngược bàng quang – niệu quản, hẹp miệng nối bể thận – niệu quản.

NKTN kèm theo một trong số các tình trạng nhiễm khuẩn huyết, nhiễm độc, tăng creatinin, hoặc không đáp ứng với kháng sinh sau 48 giờ điều trị, tắc nghẽn hệ tiết niệu do khối u ở bụng hoặc bàng quang1. - NKTN tiên phát (không có biến chứng) là các NKTN không kèm theo bệnh tiết niệu1. * Phân loại dựa vào NKTN mới mắc lần đầu và NKTN tái phát. - NKTN tái phát: có ≥ 2 đợt viêm thận bể thận cấp hoặc 1 đợt viêm thận bể thận cấp hoặc ≥ 1 đợt viêm bàng quang1.

- NKTN tái phát lại được chia thành vi khuẩn niệu chưa được giải quyết, vi khuẩn niệu dai dẳng và vi khuẩn niệu tái nhiễm10. Dịch tễ học nhiễm khuẩn tiết niệu NKTN là một trong những bệnh nhiễm khuẩn thường gặp ở trẻ em, nhất là trẻ nhỏ. Tỷ lệ thật NKTN ở trẻ em rất khó đánh giá bởi vì trẻ bị mắc NKTN có thể không có triệu chứng của đường tiết niệu, có thể có triệu chứng của đường tiết niệu như đái buốt, đái rắt, tức vùng trên xương mu, đau góc sườn cột sống. Hơn nữa, các phương pháp thu gom nước tiểu và tiêu chuẩn xác định NKTN rất khác nhau, các test xét nghiệm nước tiểu có thể dương tính giả và âm tính giả nên cũng ảnh hưởng nhiều đến tỷ lệ NKTN.

Nghiên cứu trên Thế giới cũng cho thấy tỷ lệ NKTN khác nhau. Tỷ lệ NKTN không những khác nhau từ các nghiên cứu dựa vào cộng đồng và dựa 7 vào bệnh viện mà còn khác nhau theo nghiên cứu của từng quốc gia. Nhìn chung tỷ lệ NKTN khoảng từ 1,2 – 29%6,12,13,14. Tỷ lệ này là số ca bệnh so với số trẻ vào khám bệnh của bệnh viện hoặc số trẻ nghi ngờ bị NKTN hay số trẻ đang nằm điều trị tại khoa thận tiết niệu hay số trẻ được điều tra tại cộng đồng trong khoảng thời gian điều tra nhất định.

Trong phân tích tổng hợp của bốn nghiên cứu bao gồm trẻ em và thanh thiếu niên < 19 tuổi (hầu hết trong số đó trên hai tuổi) và có các triệu chứng tiết niệu và/hoặc sốt, tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn tiết niệu là 7,8%3. Khoảng 11,3% trẻ gái và 3,6% trẻ trai bị ít nhất 1 lần NKTN cho đến 16 tuổi15. Jodal (1998), trong năm đầu tiên của cuộc đời, tổng tỷ lệ mắc bệnh là gần tương tự đối với giới tính, tỷ lệ nguy cơ tương ứng là 11,3 và 10,5/1000 đối với nữ và nam16. Trong khi tỷ lệ nhiễm trùng tiểu có triệu chứng trong lần đầu tiên 10 năm đầu đời là 3,0% ở bé gái và 1,1% ở bé trai16.

Tần suất mắc bệnh dao động theo tuổi, chủng tộc và giới tính17. Nhiều nghiên cứu đều cho thấy NKTN thường xảy ra phổ biến nhất trong 2 năm đầu đời18,19. Trong năm đầu trẻ trai mắc bệnh nhiều hơn, còn những năm sau trẻ gái chiếm đa số. Trên lâm sàng các tác giả thường hay chia tuổi của bệnh nhân ra thành 2 nhóm tuổi: dưới 2 tuổi và từ 2 tuổi trở lên.

Lý do là ở trẻ dưới 2 tuổi, hệ thống miễn dịch bẩm sinh chưa trưởng thành, đường tiết niệu đặc biệt là cơ bàng quang chưa thực sự phát triển hoàn thiện nên trẻ dễ bị mắc NKTN. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng nhiễm khuẩn tiết niệu 1. Triệu chứng lâm sàng 1. Nhiễm khuẩn tiết niệu có triệu chứng: * Viêm bàng quang (nhiễm khuẩn tiết niệu dưới) - Với dấu hiệu nhiễm khuẩn: sốt vừa hoặc không sốt.

Theo nghiên cứu của Lê Thị Thanh Huyền và Nguyễn Ngọc Sáng, nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ từ 2 tháng – 15 tuổi có sốt, triệu chứng lâm sàng hay gặp nhất là sốt dưới 38 ͦ C 8 chiếm 57,4%, sốt ≥ 38 - 39,5 ͦ C gặp 42,6%, không gặp trường hợp nào sốt > 39 ͦ C kèm rét run, triệu chứng về thay đổi nước tiểu (đái đỏ, đái đục) chỉ gặp 42%, rối loạn tiểu tiện 38%6. - Các dấu hiệu viêm bàng quang như: tiểu khó, tiểu rắt, tiểu buốt, tiểu đục, tiểu máu.1 - Ở trẻ nhỏ dấu hiệu đái buốt không rõ, có thể biểu hiện bởi trẻ khóc khi đái. Theo nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Sáng và Đặng Văn Chức (2010) cho thấy biểu hiện lâm sàng của NKTN ở trẻ 2 tháng đến 6 tuổi tại cộng đồng nghèo nàn chủ yếu là triệu chứng đái rắt (46,5%), đái buốt (29,0%) và đái đục (12,0%). Hầu hết (93%) là nhiễm khuẩn tiết niệu dưới5.

Triệu chứng rối loạn tiểu tiện và thay đổi nước tiểu thường không hằng định và rất khác nhau giữa các nghiên cứu, một phần vì biểu hiện ở trẻ rất khác nhau so với người lớn, mặt khác do trẻ chưa biết nói nên bố mẹ và bác sĩ không ghi nhận được hết các triệu chứng này. * Viêm thận – bể thận (nhiễm khuẩn tiết niệu trên) - Viêm thận – bể thận cấp + Dấu hiệu nhiễm khuẩn toàn thân: Trẻ lớn có biểu hiện rõ rệt: sốt cao, rét run đôi khi co giật và sốt nóng có thể đơn độc hoặc phối hợp kém ăn, giảm cân, rối loạn tiêu hoá cấp đôi khi làm lạc hướng chẩn đoán10.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Nguyễn Thị Tuyết Minh (2024), Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố nguy cơ gây nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ từ 2 tháng đến 15 tuổi tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, Luận văn bác sĩ nội trú, Trường Đại học Y - Dược, Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên.
APA 7
Nguyễn, T. T. M. (2024). Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố nguy cơ gây nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ từ 2 tháng đến 15 tuổi tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên [Luận văn bác sĩ nội trú, Trường Đại học Y - Dược, Đại học Thái Nguyên]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/nhiem-khuan-tiet-nieu-o-tre-benh-vien-trung-uong-thai-nguyen-nguyen-thi-tuyet-minh/9646553436
IEEE
T. T. M. Nguyễn, "Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố nguy cơ gây nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ từ 2 tháng đến 15 tuổi tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên," Luận văn bác sĩ nội trú, Trường Đại học Y - Dược, Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên, 2024. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/nhiem-khuan-tiet-nieu-o-tre-benh-vien-trung-uong-thai-nguyen-nguyen-thi-tuyet-minh/9646553436

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác