MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Con trâu có tầm quan trọng đặc biệt trong nền sản xuất nông nghiệp, là nguồn cung cấp sức kéo chính (cày bừa và vận chuyển ở nông thôn), cung cấp lượng lớn phân hữu cơ cho trồng trọt và đóng góp một phần không nhỏ thịt cho nhu cầu của con người. Ngoài ra sản phẩm phụ như da, sừng, lông trâu còn được sử dụng để chế biến một số đồ dùng gia dụng và hàng mỹ nghệ. Thịt trâu ngày càng được đánh giá cao trên thị trường và được nhiều người ưa chuộng, kể cả ở một số nước châu Âu và châu Mỹ vì thịt trâu nhiều nạc, ít mỡ, ít cholesterol.
Do vậy, phát triển chăn nuôi trâu ở nước ta trong những năm tới là rất cần thiết. Trong những năm gần đây, nhờ việc áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mới và thực hiện một số chính sách mới về phát triển chăn nuôi trâu nên số lượng đàn trâu ở nước ta đã tăng lên rõ rệt. Đứng trước những thuận lợi và khó khăn đó người chăn nuôi có xu hướng phát triển thêm ngành chăn nuôi trâu, bò. Ngày nay, với trình độ dân trí ngày một nâng cao, người nông dân biết áp dụng những tiến bộ kỹ thuật vào chăn nuôi, nhưng dịch bệnh vẫn xảy ra, trong đó phải kể đến bệnh ký sinh trùng.
Khi nói đến bệnh ký sinh trùng, không thể không nhắc đến bệnh sán lá gan, một bệnh có phân bố rộng ở nhiều nước trên thế giới. Đây là bệnh do các loài sán thuộc giống Fasciola gây nên. Các loài sán này ký sinh chủ yếu ở trâu, bò và một số động vật ăn cỏ khác như dê, cừu,. Ngoài ra, sán lá gan còn ký sinh và gây bệnh cho người.
Ở Việt Nam loài gây bệnh được xác định chủ yếu là Fasciola gigantica, có phân bố rộng trong cả nước. Chu trình phát triển của sán lá gan lại thông qua vật chủ trung gian là các loài ốc nước ngọt, các loài ốc này phân bố ở khắp nơi do đó mầm bệnh phát tán nhanh, tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò thường cao và nhiều con bị nhiễm với cường độ nặng. Bệnh gây thiệt hại kinh tế lớn, bệnh tiến triển ở thể mãn tính làm súc vật gầy còm, sút cân, kiệt sức thiếu máu, hoàng đản và có thể chết nếu mắc bệnh nặng. Gia n 2 súc cho sữa mắc bệnh làm sản lượng sữa giảm, khi mổ thịt thì phải loại bỏ những gan có sán.
Bệnh nặng gây tắc ống dẫn mật, viêm gan, xuất huyết các cơ quan mà ấu trùng đi qua. Mầm bệnh phát tán ra môi trường là nguy cơ lớn lây nhiễm cho người. Bệnh còn tạo điều kiện cho bệnh truyền nhiễm phát sinh. Xuất phát từ tình hình thực tế, để đánh giá chính xác hơn về tình hình nhiễm sán lá gan và tìm ra biện pháp phòng trị tốt, hạn chế đến mức thấp nhất dịch bệnh cho đàn vật nuôi, và bảo vệ sức khoẻ cho con người.
Được sự cho phép của Khoa Chăn Nuôi Thú Y, thầy giáo hướng dẫn Trần Văn Thăng chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:“Tình hình nhiễm bệnh sán lá gan ở trâu và thử nghiệm quy trình phòng trị bệnh sán lá gan cho trâu ”. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá tình hình nhiễm sán lá gan ở trâu nuôi tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi. - Thử nghiệm quy trình phòng trị bệnh sán lá gan cho trâu nuôi tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi. - Xác định hiệu lực tẩy của một số loại thuốc.
Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa khoa học: Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về tình hình nhiễm sán lá gan trâu và quy trình phòng bệnh, điều trị bệnh sán lá gan cho trâu ở Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi. - Ý nghĩa thực tiễn: Đề ra biện pháp phòng trị bệnh sán lá gan cho trâu có hiệu quả. n 3 Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Những hiểu biết chung về sán lá gan trâu Bệnh sán lá gan có tên gọi là Fasciolosid.
Bệnh sán lá gan thường xảy ra ở gia súc lớn đặc biệt là ở trâu, bò. Sán lá gan là tên gọi chung của hai loài sán lá sống ở gia súc thuộc lớp sán lá (Trematoda) có tên khoa học là Fasciola gigantica và Fasciola hepantica. Đây là hai loài sán nội ký sinh trùng gây bệnh chung cho động vật nhai lại. Ở nước ta thường gặp chủ yếu là Fasciola gigantica.
Những sán này thường ký sinh ở ống dẫn mật, có khi thấy ở phổi, tim, hạch lâm ba, tuyến tuỵ của trâu, bò, dê, cừu, cũng có thể gặp ở lợn, ngựa, thỏ. Việt Nam là một nước có khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa. Mối quan hệ phức tạp giữa vật chủ và vật ký sinh đã gây nên tổn thất lớn cho sản xuất và đời sống. Vì vậy, việc phòng chống bệnh ký sinh trùng lại càng trở nên cấp bách hơn.
Vị trí của sán lá Fasciola trong hệ thống phân loại động vật học Theo Skrjabin và cs (1977) [25], sán lá gan ký sinh và gây bệnh cho gia súc nhai lại được xếp trong hệ thống phân loại động vật như sau: Ngành Plathelminthes (Schneider, 1873) Phân ngành Platodes (Leuckart, 1854) Lớp Trematoda (Rudolphi, 1808) Phân lớp Prosostomadidea (Skrjabin và Guschanskaja, 1962) Bộ Fasciolida (Skrjabin và Schulz, 1937) Phân bộ Fasciolata (Skrjabin và Schulz, 1937) Họ Fasciolidae (Railliet, 1895) Phân họ Fasciolinae (Stiles và Hassall, 1898) Giống Fasciola (Linnaeus, 1758) Loài Fasciola hepatica (Linnaeus, 1758) Loài Fasciola gigantica (Cobbold, 1885) n 4 2. Đặc điểm hình thái của sán lá Fasciola Cũng như nhiều loài sán lá khác, sán lá gan lưỡng tính, có thể thụ tinh chéo hoặc tự thụ tinh. Sán có giác miệng và giác bụng, giác bụng không nối với cơ quan tiêu hoá. Sán không có hệ hô hấp, tuần hoàn và cơ quan thị giác (ở giai đoạn mao ấu có dấu vết sắc tố mắt).
Hệ sinh dục rất phát triển với cả bộ phận sinh dục đực và cái trong cùng một sán. Tử cung sán chứa đầy trứng. Có thể phân biệt hai loài sán lá gan Thuộc giống Fasciola như sau: - F. gigantica (Cobbold, 1885): có chiều dài thân gấp 3 lần chiều rộng, “vai” không có hoặc nhìn không rõ rệt, nhánh ruột chia toả ra nhiều nhánh ngang.
gigantica (nghĩa là sán lá “khổng lồ”) dài 25 - 75 mm, rộng 3 - 12 mm, u lồi hình nón của đầu là phần tiếp theo của thân, vì vậy nó không có “vai” như loài Fasciola hepatica. Hai rìa bên thân sán song song với nhau, đầu cuối của thân tù. Giác bụng tròn lồi ra. Ruột, tuyến noãn hoàng, buồng trứng và tinh hoàn đều phân nhánh.
Trứng hình bầu dục, màu vàng nâu, phôi bào to đều và xếp kín vỏ. Kích thước trứng: 0,125 - 0,170 x 0,06 - 0,10 mm. - Fasciola hepatica (Linneaus,1758): trái với loài trên, loài này thân rộng, đầu lồi và nhô ra phía trước làm cho sán có “vai”, nhánh ruột chia ít nhánh ngang hơn. Fasciola hepatica dài 18 - 51 mm, rộng 4 - 13 mm, phần thân trước nhô ra, tạo cho sán có vai bè ra hai bên.
Hai rìa bên thân sán không song song với nhau mà phình ra ở chỗ vai rồi thót lại ở đoạn cuối thân. Những ống dẫn tuyến noãn hoàng chạy ngang, chia vùng giữa của sán thành phần trước và phần sau thân. Phần sau thân có tinh hoàn và bộ phận sinh dục đực. Tinh hoàn phân nhiều nhánh xếp phía sau thân.
Tử cung ở giữa phần thân trước tạo nên một mạng lưới rối như tơ vò. Buồng trứng phân nhánh nằm ở sau tử cung. Trứng sán có hình thái, màu sắc tương tự trứng của loài F. gigantica, kích thước 0,13 - 0,145 × 0,07 - 0,09 mm.
Bệnh sán lá gan ở trâu, bò, dê do hai loài sán lá ký sinh ở ống dẫn mật và gan gây ra (Fasciola hepatica và Fasciola gigantica). Ngoài trâu, bò, dê, hai loài này còn gây bệnh cho các động vật nhai lại khác, đôi khi thấy cả ở người. Theo Urguhart (1996) [38], tác hại của sán lá gan đối với gia súc nhai lại rất lớn, biểu hiện rõ nhất là gây thiếu máu, xơ gan, viêm gan, khi gia súc bị nhiễm sán ở mức độ nặng. Vòng đời của sán lá Fasciola Fasciola trưởng thành ký sinh trong ống dẫn mật của trâu, bò, dê.
Sau khi thụ tinh, mỗi sán đẻ hàng chục vạn trứng. Những trứng này cùng dịch mật vào ruột, sau đó theo phân ra ngoài. Nếu gặp điều kiện thuận lợi: được nước mưa cuốn trôi xuống các vũng nước, hồ, ao, suối, ruộng nước., nhiệt độ 15 - 30oC, pH = 5 - 7,7, có ánh sáng thích hợp… sau 10 - 25 ngày trứng nở thành Miracidium bơi tự do trong nước. Nếu thiếu ánh sáng, Miracidium không có khả năng thoát vỏ nhưng vẫn tồn tại đến 8 tháng trong vỏ, Miracidium có hình tam giác, xung quanh thân có lông di chuyển được trong nước.
Khi gặp vật chủ trung gian thích hợp (ốc Lymnaea), Miracidium xâm nhập cơ thể ốc và phát triển thành bào ấu (Sporocyst). Những Miracidium không gặp vật chủ trung gian thì rụng lông, rữa dần và chết. Bào ấu (Sporocyst) hình túi, màu sáng, được bao bọc bởi lớp màng mỏng, các tế bào ngọn lửa hoạt động hình thành hầu, ống ruột và các đám phôi. Trong một ốc có thể có 1 - 2 ấu trùng.
Khoảng 3 - 7 ngày, bào ấu sinh sản vô tính cho ra nhiều lôi ấu (Redia). Một bào ấu sinh ra 5 - 15 lôi ấu. Redia hình suốt chỉ, ít hoạt động, có miệng, hầu, ruột, hình túi đơn giản. Có hai hệ: Redia thế hệ I và Redia thế hệ II cùng phát triển trong ốc - vật chủ trung gian.
Ở nhiệt độ 160C hoặc thấp hơn, lôi ấu chỉ sản sinh Redia I và dừng phát triển. Ở nhiệt độ phù hợp (20 - 30oC), sau 29 - 35 ngày, lôi ấu biến thành vĩ ấu (Cercaria). Một Redia có thể sinh ra 12 - 20 Cercaria. Cercaria là ấu trùng ở pha sống tự do của sán lá gan, có cấu tạo thân hình tròn lệch, đuôi dài hơn thân giúp vĩ ấu vận chuyển được dễ dàng trong nước.
Cấu tạo của vĩ ấu gồm giác miệng, giác bụng, hầu, thực quản và ruột phân thành hai nhánh. Từ khi Miracidium chui vào ốc đến khi phát triển thành Cercaria cần khoảng 50 - 80 ngày. Sau khi thành thục Cercaria thoát khỏi ốc, ra môi trường ngoài, bơi tự do trong nước, có kích thước 0,28 - 0,30 mm chiều dài và 0,23 mm chiều rộng. Sau vài giờ bơi trong nước, Cercaria rụng đuôi, tiết chất nhầy xung quanh thân, chất nhầy gặp không khí khô rất nhanh đông đặc lại thành vỏ bọc chắc chắn, màu nâu hung, đường kính 0,2 - 0,25mm.
Lúc này Cercaria đã biến thành Adolescaria.