Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành y đa khoa nhận xét tình trạng thiếu máu ở các bệnh nhân suy tim mạn phân số tống máu giảm tại viện tim mạch bệnh viện bạch mai từ tháng 01 đến tháng 06 năm 2019

Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Y đa khoa phân tích tình trạng thiếu máu ở bệnh nhân suy tim mạn phân số tống máu giảm tại Viện Tim mạch Bệnh viện Bạch Mai năm 2019.

Chuyên ngành

Y Đa Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2020

83
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM KẾT

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Tổng quan về suy tim

1.2. Định nghĩa suy tim

1.3. Tỷ lệ mắc suy tim

1.4. Tỷ lệ tử vong trong suy tim

1.5. Tỷ lệ nhập viện do suy tim

1.6. Sinh lý bệnh suy tim

1.7. Các yếu tố ảnh hưởng tới cung lượng tim

1.8. Các cơ chế bù trừ trong suy tim

2. CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.4. Thiết kế nghiên cứu

2.5. Địa điểm nghiên cứu

2.6. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

2.7. Phương pháp tiến hành

2.8. Các thông số nghiên cứu

2.9. Xử lý số liệu

2.10. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.2. Khảo sát tình trạng thiếu máu của đối tượng nghiên cứu

3.3. Tỷ lệ thiếu máu của đối tượng nghiên cứu

3.4. Đặc điểm thiếu máu của đối tượng nghiên cứu

3.5. Mối liên quan giữa thiếu máu và suy tim

3.6. Mối liên quan giữa thiếu máu và các đặc điểm trên lâm sàng

3.7. Mối liên quan giữa thiếu máu và mức độ suy tim theo NYHA

3.8. Mối liên quan giữa thiếu máu với nguyên nhân gây suy tim

4. CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung

4.2. Tỷ lệ và đặc điểm thiếu máu ở bệnh nhân suy tim phân số tống máu giảm

4.3. Đặc điểm thiếu máu ở các bệnh nhân suy tim phân số tống máu giảm

4.4. Mối liên quan giữa thiếu máu với nguyên nhân và mức độ thiếu máu

4.5. Mối liên quan giữa thiếu máu và nguyên nhân suy tim

4.6. Liên quan giữa thiếu máu và mức độ suy tim theo NYHA

4.7. Mối liên quan giữa thiếu máu và mức độ suy tim trên lâm sàng

4.8. Mối liên quan giữa thiếu máu và các xét nghiệm sinh hóa

4.9. Mối liên quan giữa thiếu máu và điện tâm đồ

4.10. Mối liên quan giữa thiếu máu và X-quang

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về suy tim và thiếu máu

Suy tim mạn tính là một hội chứng lâm sàng phức tạp, thường gặp trong các bệnh lý tim mạch như bệnh van tim, bệnh cơ tim và bệnh mạch vành. Thiếu máu là tình trạng phổ biến ở bệnh nhân suy tim, đặc biệt là những người có phân số tống máu giảm. Nghiên cứu tại Viện Tim Mạch Bệnh Viện Bạch Mai năm 2019 cho thấy, tỷ lệ thiếu máu ở bệnh nhân suy tim mạn dao động từ 15% đến 60%. Thiếu máu không chỉ làm tăng mức độ nặng của suy tim mà còn liên quan đến tỷ lệ tử vong và tái nhập viện cao.

1.1. Định nghĩa và dịch tễ học suy tim

Theo Hội Tim Mạch Châu Âu (ESC), suy tim được định nghĩa là hội chứng lâm sàng đặc trưng bởi các triệu chứng như khó thở, phù chân và mệt mỏi, kèm theo các dấu hiệu như tĩnh mạch cổ nổi và phù ngoại vi. Tỷ lệ mắc suy tim tăng dần theo tuổi, đặc biệt ở nhóm người trên 70 tuổi. Tại Việt Nam, ước tính có khoảng 320.000 đến 1,6 triệu người mắc suy tim cần điều trị.

1.2. Sinh lý bệnh của suy tim và thiếu máu

Trong suy tim, cung lượng tim giảm do rối loạn chức năng co bóp của tim. Thiếu máu làm trầm trọng thêm tình trạng này bằng cách giảm khả năng vận chuyển oxy của máu. Các cơ chế bù trừ như tăng hoạt động hệ Renin-Angiotensin-Aldosteron (RAAS) và hệ thần kinh giao cảm chỉ có tác dụng tạm thời, về lâu dài lại làm tăng hậu gánh và tiền gánh, dẫn đến suy tim tiến triển nặng hơn.

II. Nghiên cứu lâm sàng về thiếu máu ở bệnh nhân suy tim

Nghiên cứu được thực hiện tại Viện Tim Mạch Bệnh Viện Bạch Mai từ tháng 01 đến tháng 06 năm 2019 nhằm đánh giá tình trạng thiếu máu ở bệnh nhân suy tim mạn phân số tống máu giảm. Kết quả cho thấy, tỷ lệ thiếu máu ở nhóm bệnh nhân này là 45%, trong đó 60% thuộc mức độ nhẹ và 40% thuộc mức độ trung bình đến nặng.

2.1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu bao gồm 150 bệnh nhân được chẩn đoán suy tim mạn phân số tống máu giảm. Các tiêu chuẩn chọn bệnh nhân bao gồm tuổi từ 18 đến 80, có triệu chứng suy tim và phân số tống máu (EF) dưới 40%. Phương pháp nghiên cứu là mô tả cắt ngang, sử dụng dữ liệu từ hồ sơ bệnh án và xét nghiệm máu.

2.2. Kết quả nghiên cứu

Kết quả cho thấy, thiếu máu có mối liên quan chặt chẽ với mức độ suy tim theo phân loại NYHA. Bệnh nhân suy tim độ III và IV có tỷ lệ thiếu máu cao hơn so với độ I và II. Ngoài ra, thiếu máu cũng liên quan đến các yếu tố như tuổi cao, bệnh thận mạn và tăng huyết áp.

III. Bàn luận và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn toàn diện về tình trạng thiếu máu ở bệnh nhân suy tim mạn phân số tống máu giảm. Thiếu máu không chỉ là yếu tố tiên lượng xấu mà còn làm tăng nguy cơ tử vong và tái nhập viện. Việc phát hiện và điều trị sớm thiếu máu có thể cải thiện chất lượng sống và kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân.

3.1. Ý nghĩa lâm sàng

Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sàng lọc thiếu máu trong quản lý bệnh nhân suy tim mạn. Các biện pháp điều trị như bổ sung sắt, sử dụng thuốc kích thích tạo hồng cầu (ESAs) và kiểm soát các bệnh lý nền có thể giúp giảm tỷ lệ thiếu máu và cải thiện tiên lượng bệnh.

3.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần có thêm các nghiên cứu dài hạn để đánh giá hiệu quả của các phương pháp điều trị thiếu máu trong suy tim mạn. Ngoài ra, việc phát triển các hướng dẫn lâm sàng cụ thể về quản lý thiếu máu ở bệnh nhân suy tim cũng là một nhu cầu cấp thiết.

12/02/2025
Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành y đa khoa nhận xét tình trạng thiếu máu ở các bệnh nhân suy tim mạn phân số tống máu giảm tại viện tim mạch bệnh viện bạch mai từ tháng 01 đến tháng 06 năm 2019

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Suy tim là một hội chứng thường gặp trong nhiều bệnh lý về tim mạch như các bệnh van tim, bệnh cơ tim, bệnh mạch vành,… Là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở các nước phát triển như Mỹ và châu Âu và một số nước khác. Bệnh có tỷ lệ mắc, tỷ lệ tử vong và chi phí điều trị cao. Mỗi năm tại Mỹ có gần 6 triệu người mắc suy tim, trên 550000 ca suy tim mới mắc được chẩn đoán, trên 1 triệu lượt nhập viện do suy tim và tỷ lệ tử vong ước tính sau 1 năm và 5 năm tương ứng là 30% và 50% [1]. Theo ESC 2016, có khoảng 1-2% người trưởng thành mắc suy tim và tỷ lệ này gia tăng trên 10% ở những người trên 70 tuổi [2].

Trong nghiên cứu Framingham, tỷ lệ đột tử ở bệnh nhân suy tim cao gấp 10 lần tỷ lệ ở quần thể chung cùng độ tuổi [3], [4]. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng có khoảng 50 % số bệnh nhân suy tim sẽ chết trong vòng 5 năm kể từ khi phát hiện bệnh và tỷ lệ tái nhập viện sau 30 ngày đối với bệnh nhân suy tim lên tới 35%. Do đó suy tim vẫn được coi là một gánh nặng đối với y tế và quốc gia.Tại Việt Nam chưa có thống kê để có con số chính xác, tuy nhiên dựa trên dân số 80 triệu và nếu tần suất tương tự như của Châu Âu sẽ có từ 320.000 đến 1,6 triệu người suy tim cần điều trị [5], [6]. Đặc biệt, theo thống kê tại Viện Tim mạch Quốc Gia (1991), cứ 1.291 bệnh nhân điều trị nội trú, có 765 người mắc suy tim (chiếm tỷ lệ 59%) [3].

Mặc dù ngày nay đã có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị suy tim, nhưng suy tim hiện vẫn đang là một một gánh nặng cho toàn nhân loại, tỷ lệ tử vong ở nhóm bệnh nhân này vẫn ở mức cao. Người ta thấy rằng thiếu máu thường xảy ra ở những bệnh nhân suy tim mạn tính. Tuy nhiên, trên lâm sàng, thiếu máu thường ít được phát hiện và đánh giá ở bệnh nhân suy tim. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về thiếu máu ở bệnh nhân suy tim mạn [7], [8].

Nhiều nghiên cứu khác cũng cho thấy tình trạng thiếu máu thì phổ biến ở bệnh nhân suy tim mạn và có liên quan đến mức độ nặng của bệnh. Trong các thử nghiệm lâm sàng có nhiều người bệnh suy tim được lựa chọn vào nghiên cứu, tỷ lệ thiếu máu dao động trong khoảng 15% đến 60% và 14%-70% trong số những bệnh nhân nhập viện [9]. Sau 1 năm, tỷ lệ thiếu máu mắc mới gia tăng thêm 9.6% ở những bệnh nhân tham gia thử nghiệm SOLVD (Studies Of Left Ventricular Dysfunction) [10] , 16.9% ở những bệnh nhân tham gia thử nghiệm Val-HeFT (Valsartan Heart Failure Trial) [11] , và 14.2% ở những bệnh nhân thử nghiệm COMET (Carvedilol Or Metoprolol European Trial) [12] Tại Việt Nam các nghiên cứu về vấn đề này còn hạn chế. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nhận xét tình trạng thiếu máu ở các bệnh nhân suy tim mạn phân số tống máu giảm tại Viện Tim Mạch – Bệnh Viện Bạch Mai từ tháng 01 đến tháng 06 năm 2019” nhằm 2 mục tiêu: 1 1.

Khảo sát tình trạng thiếu máu ở các bệnh nhân suy tim mạn phân số tống máu giảm tại Viện Tim Mạch – Bệnh Viện Bạch Mai từ tháng 01 đến tháng 06 năm 2019 2. Tìm hiểu mối liên quan giữa thiếu máu với nguyên nhân, mức độ suy tim và một số yếu tố khác. Tổng quan về suy tim 1. Định nghĩa suy tim Trong y văn đã xuất hiện khá nhiều định nghĩa về suy tim.

Năm 1928 Osỉer đã cho là “suy tim khi ở những quả tim này lực dự trữ đã cạn, và với tình trạng đó không đủ khả năng đáp ứng yêu cầu duy trì tuần hoàn khi gắng sức lớn”. Trong những năm 50 - 60 của thế kỷ XX nhờ những tiến bộ về nghiên cứu siêu cấu trúc và chuyển hóa tế bào cho thấy tổn thương chính trong suy tim là suy giảm chức năng co bóp của tim nên một số tác giả lại cho rằng “suy tim là trạng thái bệnh lý trong đó rối loạn chức năng co bóp của tim làm cho tim mất khả năng cung cấp máu theo nhu cầu của cơ thể, lúc đầu khi gắng sức và sau đó cả lúc nghỉ ngơi”. Năm 2015, Hội tim mạch Việt Nam đưa ra định nghĩa suy tim dựa theo ESC 2013: “Suy tim là một hội chứng lâm sàng phức tạp là hậu quả của những tổn thương thực thể hay rối loạn chức năng của tim dẫn đến tâm thất không đủ khả năng tiếp nhận máu (suy tim tâm trương) hoặc tống máu (suy tim tâm thu) “. Theo khuyến cáo ESC 2016: “ Suy tim là một hội chứng lâm sàng đặc trưng bởi các triệu chứng điển hình (VD: khó thở, phù chân và mệt mỏi) mà có thể đi kèm với các dấu hiệu ( VD: tĩnh mạch cổ nổi, ran phổi và phù ngoại vi) gây ra bởi bất thường cấu trúc và/hoặc chức năng tim mạch, dẫn đến cung lượng tim giảm và/hoặc áp lực trong tim cao lúc nghỉ hoặc khi gắng sức/stress.

Dịch tễ học suy tim 1. Tỷ lệ mắc suy tim Tỷ lệ mắc suy tim tăng dần theo tuổi, nam giới cao hơn so với nữ giới. Trong nghiên cứu Framingham, tỷ lệ mắc bệnh thường niên của suy tim ở nam giới 3/1000 người trong độ tuổi 50-59 và 27/1000 người trong độ tuổi 80-89, tỷ lệ này ở phụ nữ 2/1000 người trong 50-59 và 22/1000 người trong độ tuổi 80-89 [13]. Một nghiên cứu lớn khác được tiến hành tại Scotland từ tháng 4/1999 đến tháng 3/2000 cho thấy, tỷ lệ mắc suy tim ở nam giới độ tuổi 45-64 là 4,3/1000 người và 134/1000 người ở độ tuổi trên 85, với nữ giới tỷ lệ này là 3,2/1000 người và 85,2/1000 người ở độ tuổi trên 85 [13].

Tỷ lệ tử vong trong suy tim Tử vong trong suy tim thường do 2 nhóm nguyên nhân chính là suy bơm và rối loạn nhịp. Tỷ lệ tử vong ở BN suy tim là rất cao. Tỷ lệ này cũng tăng theo tuổi. Nghiên cứu Framingham cho thấy tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân trong 1 năm của BN suy tim là 57% ở nữ và 64% ở nam, tỷ lệ sống sót sau 5 năm ở nam là 25% và ở nữ là 38% [13].

3 Nghiên cứu tại Scotland trên các BN suy tim, tỷ lệ tử vong trong 30 ngày sau ra viện là 10,41% ở nhóm BN tuổi dưới 55 và tỷ lệ tử vong trong 5 năm là 46,75%, ngược lại tỷ lệ này ở nhóm BN tuổi 75-84 là % trong 30 ngày sau ra viện và 88% trong vòng 5 năm [14]. Tỷ lệ nhập viện do suy tim. Nhờ những tiến bộ về các phương pháp điều trị cho BN suy tim mà tỷ lệ sống sót ở BN suy tim đã được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên tỷ lệ tái nhập viện vì suy tim vẫn tăng từ 92/1000 người trong năm 1990-1991 đến 124/1000 người trong năm 1997-1998.

Tái nhập viện ở BN suy tim chiếm một phần đáng kể trong gánh nặng nhập viện của các bệnh lý tim mạch. Theo Feldman và cộng sự trên các BN lớn tuổi suy tim, có khoảng 16,6%- 22% BN tái nhập viện trong vòng 30 ngày và từ 46,7% đến 49,4% trong vòng 6 tháng. [15] Suy tim đã được coi như là một đại dịch và là một vấn đề sức khỏe của cộng đồng cũng như các nhà lâm sàng. Mặc dù có những tiến bộ trong việc giảm tỷ lệ tử vong do suy tim nhưng tình trạng nhập viện vì suy tim vẫn ở mức cao và tiếp tục tăng.

Suy tim cũng là một vấn đề y tế công cộng, với tỷ lệ hơn 5,8 triệu tại Hoa Kỳ và hơn 23 triệu trên toàn thế giới [16]. Tại Hoa Kỳ mỗi năm có khoảng 780 000 trường hợp suy tim mới được chẩn đoán [17]. Theo Hội tim mạch Châu Âu năm 2005 tỷ lệ mắc suy tim ở các nước Châu Âu vào khoảng 0,4 - 2%, với số người bị suy tim có triệu chứng lên tới 10 triệu người [16], [18]. Tỷ lệ mắc suy tim tăng dần theo tuổi: Theo nghiên cứu Framingham theo dõi trong vòng 34 năm cho thấy tỷ lệ mắc suy tim tăng dần theo tuổi từ 0,8% ở lứa tuổi 50 - 59, tăng lên 2,3% ở lứa tuổi 60- 69, và tăng cao tới 9,1% ở lứa tuổi 80 - 89 [19], [20].

Tại Anh, theo một nghiên cứu ở Luân Đôn cho thấy tỷ lệ mắc suy tim là 0,6% dân thuộc lứa tuổi < 65 và tăng lên 2,8% ở lứa tuổi>65 [21]. Tại Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu lớn đánh giá tình hình mắc suy tim trong cộng đồng. Tại Viện Tim mạch Việt Nam, năm 1991 số bệnh nhân mắc suy tim chiếm 59% tổng số bệnh nhân nằm viện và 48% tổng số bệnh nhân tử vong. Năm 2000 số bệnh nhân bị suy tim phải nằm điều trị tại Viện Tim mạch cũng còn lên tới 56,6%.

Với số dân khoảng 80 triệu người và tần suất mắc như Châu Âu thì ước tính nước ta có khoảng 320.000 đến 1,6 triệu người suy tim cần điều trị [22], [23]. Sinh lý bệnh suy tim Trong suy tim, cung lượng tim thường giảm xuống. Khi cung lượng tim giảm cơ thể phản ứng lại bằng các cơ chế bù trừ của tim và các hệ thống ngoài tim, để cố duy trì cung lượng này cho nhu cầu của cơ thể. Nhưng khi cơ chế bù trừ này bị vượt quá sẽ xảy ra suy tim với nhiều hậu quả của nó.

Các yếu tố ảnh hưởng tới cung lượng tim Cung lượng tim phụ thuộc vào 4 yếu tố chính: tiền gánh, hậu gánh, sức co bóp của cơ tim và tần số tim [24]. Sức co bóp của cơ tim Tiền gánh Cung lượng tim Hậu gánh Tần số tim a. Tiền gánh Tiền gánh được đánh giá bằng thể tích hoặc áp lực cuối tâm trương của tâm thất. tiền gánh là yếu tố quyết định mức độ kéo dài sợi cơ tim trong thời kỳ tâm trương , trước lúc tâm thất co bóp.

Tiền gánh phụ thuộc vào: - Áp lực đổ đầy thất, tức là lượng máu tĩnh mạch trở về tâm thất - Độ giãn của tâm thất b. Sức co bóp của cơ tim Sức co bóp của cơ tim tuân theo định luật Starling, đó là mối tương quan giữa áp lực hoặc thể tích cuối tâm trương trong tâm thất với thể tích nhát bóp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nhận xét tình trạng thiếu máu ở bệnh nhân suy tim mạn phân số tống máu giảm tại Viện Tim Mạch Bệnh Viện Bạch Mai 2019" cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa tình trạng thiếu máu và suy tim mạn tính, đặc biệt là ở những bệnh nhân có phân số tống máu giảm. Nghiên cứu này không chỉ giúp nâng cao nhận thức về tình trạng sức khỏe của bệnh nhân mà còn chỉ ra những yếu tố nguy cơ và cách thức quản lý hiệu quả hơn. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách điều trị và theo dõi bệnh nhân, từ đó cải thiện chất lượng cuộc sống cho những người mắc bệnh.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến tim mạch và các yếu tố nguy cơ, bạn có thể tham khảo bài viết Luận án tiến sĩ nghiên cứu mối liên quan giữa resistin visfatin với một số nguy cơ tim mạch chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2, nơi khám phá mối liên hệ giữa các yếu tố sinh học và nguy cơ tim mạch. Ngoài ra, bài viết Đánh giá sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp ở trung tâm y tế huyện giồng riềng tỉnh kiên giang năm 2021 cũng sẽ cung cấp cái nhìn về sự tuân thủ điều trị, một yếu tố quan trọng trong quản lý bệnh lý tim mạch. Cuối cùng, bài viết Luận án tiến sĩ nghiên cứu lâm sàng xquang đánh giá hiệu quả điều trị hẹp chiều ngang xương hàm trên bằng hàm nong nhanh kết hợp với minivis có thể mang đến cho bạn những thông tin bổ ích về các phương pháp điều trị hiện đại trong y học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề sức khỏe liên quan.