mở đầu, có kết thúc, cũng có những tiểu thuyết là những cốt truyện dựa trên thi pháp 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiện đại. Cốt truyện đã vận động thay đổi trong sự phát triển của thể loại. Về đoạn kết của tiểu thuyết, có mô hình kết thúc có hậu, các vấn đề được giải quyết một cách hoàn tất, trọn vẹn. Có đoạn kết với kiểu kết thúc bỏ ngỏ, không hoàn kết.
Tất cả các dạng thức trên đều nhằm phân tích, lý giải những vấn đề phức tạp và bí ẩn của con người, cuộc sống đương đại. Cốt truyện tiểu thuyết từ những năm đổi mới đến nay, một mặt vẫn kế thừa và phát triển những đặc trưng của cốt truyện truyền thống, một mặt khác đã tiếp cận với tiểu thuyết hiện đại thế giới. Nghệ thuật đồng hiện, kỹ thuật độc thoại nội tâm, dòng ý thức, lắp ghép, sử dụng huyền thoại, nghệ thuật gián cách, đa giọng điệu là những vấn đề còn mới mẻ trong văn xuôi Việt Nam đã được tiểu thuyết vận dụng, biến hóa một cách linh hoạt và uyển chuyển trên tinh thần dân tộc hiện đại. Trong đội ngũ những người viết tiểu thuyết có không ít tác giả đã cố gắng đổi mới tư duy tiểu thuyết, tìm một hướng đi mới trong sáng tạo thể loại: Ma Văn Kháng, Lê Văn Thảo, Nguyễn Trí Huân, Tô Hoài, Nguyễn Xuân Khánh, Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, … Những cây bút kể trên đã cố gắng cách tân trong sáng tạo với những tiểu thuyết có cốt truyện lỏng lẻo, mơ hồ, co giãn, khó tóm tắt, khó kể lại.
Có thể nói đến sự tan rã của cốt truyện trong tác phẩm tự sự. Cấu trúc tác phẩm được lắp ghép, chắp nối từ những mảnh vụn của hiện thực. Tiểu thuyết không tạo ra những tình huống kịch hoặc lối kể chuyện có trước, có sau. Các yếu tố sự kiện, tình tiết, nhân vật được triển khai theo mạch vận động của cảm xúc, suy nghĩ.
Tiểu thuyết vừa là tiếng nói của ý thức, vừa là tiếng nói của tiềm thức, của giấc mơ, thể hiện cái hiện tại đang vận động, biến chuyển, không khép kín. Ý thức cách tân nghệ thuật, đổi mới tư duy tiểu thuyết là nỗ lực sáng tạo đáng kể của các cây bút văn xuôi nhằm biểu đạt tâm hồn con người thời đại. Trong các tiểu thuyết Chim én bay, Ăn mày dĩ vãng, Cuộc đời dài lắm, Một ngày và một đời, Ngày hoàng đạo, các cây bút đã sử dụng thủ pháp đồng hiện trong cấu trúc tác phẩm. Ở đó, quá khứ và hiện tại là cốt truyện của tiểu thuyết.
Với Một ngày và một đời, Lê Văn Thảo đã tái tạo ký ức, làm sống dậy cuộc đời một nữ chiến sĩ biệt động vô danh bằng cách lắp ghép những mảnh 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vụn của quá khứ qua lời kể, trí nhớ của các nhân vật, với sự di chuyển các điểm nhìn trần thuật khá mới mẻ và độc đáo. Trong Chim én bay của Nguyễn Trí Huân, quá khứ đậm nhạt luôn luôn có mặt trong hiện tại, thời gian luôn luôn chuyển động, thay đổi theo dòng hồi ức tạo điều kiện cho nhà văn đi sâu vào diễn biến tâm lý phong phú và phức tạp của nhân vật. Với Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh đã xây dựng tác phẩm theo dòng tâm trạng nhân vật, bao gồm cả ý thức lẫn vô thức sáng tạo, dựa trên trực giác, linh cảm để ngòi bút phiêu lưu trong thế giới tâm linh của con người. Xu hướng lắp ghép liên văn bản là một trong những yếu tố không thể không kể đến của thi pháp cốt truyện tiểu thuyết hiện đại.
Tiểu thuyết được viết một cách tự nhiên, không bị ràng buộc bởi thi pháp truyền thống. Tiểu thuyết hình thành bằng cách lắp ghép, tạo dựng các mảnh cốt truyện, các mảnh tâm trạng không theo trình tự thời gian mà ngổn ngang, đảo ngược theo ý đồ của các tác giả, tạo ra “truyện trong truyện”. Những tình huống, cảnh ngộ, biến cố như không quan hệ, liên đới được xích lại gần nhau. Cùng với sự lắp ghép đó là sự di chuyển các điểm nhìn, là tư duy nghệ thuật trong sự qui ước vừa chặt chẽ, vừa co giãn của cấu trúc thể loại.
Sự thâm nhập các thể loại khác vào tiểu thuyết cũng là một nhân tố làm co giãn cốt truyện. Tiểu thuyết có thể chứa trong chính nó: nhật ký, chuyện kể, thơ, thư từ, “tham luận khoa học”… huyền thoại, điển tích, cổ tích. Những hình thức văn bản trong văn bản góp phần tạo thành những tiếng nói khác nhau trong tiểu thuyết, nới rộng cấu trúc thể loại, mở rộng trường nhìn. Như vậy cốt truyện trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại không biến mất mà co giãn theo cấu trúc của từng tác phẩm cụ thể, mỗi chủ thể nhà văn có thể sáng tạo ra nó bằng nhiều cách thức, kiểu dạng mà mục đích cuối cùng là thể hiện ý đồ nghệ thuật một cách có hiệu quả.
Nhân vật văn học là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người. Tiểu thuyết ngoài khả năng tái hiện bức tranh toàn cảnh của đời sống xã hội còn có khả năng đi sâu khám phá số phận con người. Quan niệm nghệ thuật về con người là yếu tố chi phối các yếu tố khác của nghệ thuật thể hiện, gắn với đời sống văn học của mỗi một giai đoạn lịch sử. Văn học thời đổi mới là giai đoạn chuyển biến từ tư 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết, từ cảm hứng lịch sử dân tộc sang cảm hứng thế sự đời tư.
Tiểu thuyết đã phát huy được khả năng tiếp cận và phản ánh hiện thực, con người trong giai đoạn mới một cách nhanh nhạy và sắc bén. Trong giai đoạn đổi mới, vấn đề con người cá thể được đặt ra một cách bức xúc, mạnh mẽ trong cảm hứng sáng tạo của các nhà văn. Song con người cá thể trong văn học hiện nay không phải là con người của chủ nghĩa cá nhân, của cái tôi cực đoan, phủ nhận mọi nền tảng đạo đức đã được thiết lập, không chịu sự tác động của xã hội. Mà ở đây số phận cá nhân được giải quyết thỏa đáng trong mối liên hệ mật thiết với cộng đồng, xã hội.
Đằng sau mỗi cá thể là những vấn đề mang ý nghĩa nhân sinh của thời đại, có sự giao nhịp phức điệu giữa con người cá thể và nhân loại: Cõi người rung chuông tận thế, Trong sương hồng hiện ra của Hồ Anh Thái, Chinatown, Pari 11 tháng 8 của Thuận, Thoạt kỳ thủy của Nguyễn Bình Phương, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Các tác giả tiểu thuyết đã nhìn nhận con người như một cá thể bình thường trong môi trường đời sống bình thường. Nhân vật trong tiểu thuyết là những con người với trăm ngàn mảnh đời khác nhau “đầy những vết dập xóa trên thân thể trong tâm hồn”: Cơn giông của Lê Văn Thảo, Cánh đồng lưu lạc của Hoàng Đình Quang, Tấm ván phóng dao của Mạc Can, Dòng sông Mía của Đào Thắng. Có thể nói, tiểu thuyết Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay đã dần dần khẳng định được vị trí riêng của mình trên con đường hiện đại hóa văn học nước nhà.
Nhiều cây bút, nhiều phong cách mới lạ. Những tác phẩm văn chương không dừng ở nói chuyện đạo lý, lịch sử mang trong mình hơi thở của cuộc sống. Những câu văn hết sức linh hoạt, giống như lời ăn tiếng nói của nhân dân không bị gò bó như những câu văn biền ngẫu trong thời trung đại. Nhân vật và chi tiết trong tác phẩm cũng đời thường không khuôn sáo, ước lệ như trước.
Đặc biệt các nhà văn bộc lộ cái tôi của mình một cách độc đáo rõ nét. Vì vậy, mỗi tác phẩm là một cá tính sáng tạo riêng, một cách cảm nhận riêng về cuộc sống. Trong số những tác giả viết tiểu thuyết có tên tuổi trong thời kỳ này, Tô Hoài được coi là một cây bút xuất sắc, đóng góp không nhỏ cho sự thành công của tiểu thuyết nước nhà. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Sáng tác của Tô Hoài Không phải ngay từ đầu Tô Hoài đã chiếm lĩnh được chủ nghĩa hiện thực. Sau những năm tháng trôi giạt, cuối cùng Tô Hoài vẫn giữ vững được vị trí một ngòi bút của chủ nghĩa hiện thực. Văn hóa Cứu quốc chính là một mặt trận yêu nước của những người làm văn hóa, thống nhất về chính trị, nhưng quan điểm nghệ thuật còn khác nhau, có khuynh hướng lãng mạn tiến bộ, hiện thực phê phán và hiện thực xã hội chủ nghĩa. Ở Tô Hoài hội nhập được nhiều tính cách ngỡ như trái ngược , sắ c sảo , dí dỏm nhưng lại điềm tĩnh , ít nói , thích giấu mình đi nhưng luôn có mặt khi cần thiết.
Tô Hoài có mô ̣t xê-ri sách viế t về các con vâ ̣t : dế , chuô ̣t, chim, mèo, cá, gấ u, …đươ ̣c go ̣i là truyê ̣n loài vâ ̣t. Truyê ̣n loài vâ ̣t của Tô Hoài là mô ̣t cố ng hiế n đô ̣c đáo vào văn ho ̣c hiê ̣n đa ̣i nói chung và văn ho ̣c dành cho thiế u nhi nói riêng. Tô Hoài có mảng sách viế t về vùng Tây Bắ c. Mảng sách này của ông làm thay đổi diện mạo của đề tài về miền núi trong văn học hiện đại.
Truyê ̣n Tây Bắ c nằ m trong số những cuố n sách hay về vùng Tây Bắc. Truyện Tây Bắc đã kế thừa được những truyền thống tốt đẹp của văn học các dân tộc. Tô Hoài đã nghiên cứu lịch sử, phong tục tập quán các dân tộc miền núi, những dân ca trữ tình của người H’mông, người Mường, những truyện cổ tích Cô tóc thơm, Giời thấp giời cao, những truyền thuyết về con rúi, con chim kỳ, những tục lệ “cướp vợ” múa xòe ngày tết … những mô típ trong các truyện cổ dân gian đã được sử dụng, cải biên, mang nội dung hiện thực mới. Truyện Tây Bắc của Tô Hoài, Đôi mắt của Nam Cao cũng chứng minh nền văn xuôi hiện thực xã hội chủ nghĩa của chúng ta trong bước đầu hình thành, đã tiếp thu được những thành tựu tiến bộ của nền văn học hiện thực phê phán.
Từ sau Truyện Tây Bắc, Tô Hoài tiếp tục đi sâu hơn vào đề tài miền núi và ghi được những thành tựu mới trong quá trình chiếm lĩnh phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tiểu thuyết Miền Tây, Trở lại cao nguyên Đồng Văn, Nhật ký vùng cao, Những làng Dao trên Viễn Sơn (ký sự) là những tác phẩm viết về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở vùng cao. Miền Tây là một cuốn tiểu thuyết vừa giàu chất ký sự, vừa giàu chất thơ.