mở đầu cho phƣơng pháp miêu tả thế giới nội tâm con ngƣời - đặc biệt là ngƣời phụ nữ - thật sâu sắc và tinh tế sau này. Tố Tâm ghi lại mối tình say đắm của Tố Tâm và Đạm Thuỷ, một đôi tài tử giai nhân trong giới thanh niên trí thức tiểu tƣ sản thành thị đƣơng thời. Dù biết Đạm Thuỷ đã yên bề gia thất, biết tình yêu của mình là vô vọng nhƣng Tố Tâm vẫn yêu chàng bằng cả trái tim mình. Nàng không ngần ngại bộc lộ rõ quan điểm yêu đƣơng rất mới mẻ của mình “Em đã yêu anh thì không thể yêu ai đƣợc nữa, mà cũng không muốn yêu ai … Đã không yêu thì không lấy vì sợ làm phiền một ngƣơi nam nhi nữa.” Mối tình của Tố Tâm với Đạm Thuỷ cuối cùng cũng không thể vƣợt qua đƣợc khuôn khổ đạo đức của hai gia đình phong kiến nhƣng sự hi sinh hết mình, không toan tính trong tình yêu của nàng thực sự là một bài ca đẹp về tình yêu tự do.
Ngoài Tố Tâm còn có những nhân vật khác trong Tự Lực Văn Đoàn nhƣ Mai trong Nửa chừng xuân của Khái Hƣng, nhân vật Loan trong Đoạn tuyệt của Nhất Linh. Những ngƣời phụ nữ này đòi hỏi quyền đƣợc yêu, đƣợc bình đẳng, chống đối tƣ tƣởng đa thê và gia trƣởng trong các gia đình phong kiến. Với dòng văn học hiện thực phê phán, chúng ta bắt gặp quan niệm: con ngƣời là sản phẩm, là tiêu bản của hoàn cảnh, khi phân tích, mổ xẻ con ngƣời, các nhà văn đã khám phá 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những tác động của hoàn cảnh đối với con ngƣời. Tuy nhiên quan niệm đó đƣợc thể hiện ở những cấp độ rất khác nhau đối với từng tác giả.
Ngô Tất Tố vốn xuất thân là một nhà Nho, lại thấm nhuần đạo đức truyền thống của dân tộc, nên hình ảnh nhân vật nữ nổi tiếng của ông – chị Dậu vừa mang cái nhìn hiện thực, đồng thời lại vẫn mang dấu ấn của cái nhìn về ngƣời phụ nữ trong văn học dân gian "Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn" và văn học trung đại. Còn những nhà văn chịu ảnh hƣởng của luồng văn hóa mới nhƣ Nam Cao, quá trình sáng tác của ông giống nhƣ một cuộc hành trình đi tìm kiếm, khám phá vẻ đẹp còn tiềm ẩn, còn sót lại trong con ngƣời. Ông quan niệm: “Cái bản tính tốt của con ngƣời ta thƣờng bị những nỗi lo lắng, buồn đau, ích kỉ, che lấp mất” (Đời thừa) và với nguyên tắc “cố tìm hiểu họ”, Nam Cao đã phát hiện đƣợc ra những phẩm chất tốt đẹp của những ngƣời phụ nữ - nhƣ nhân vật Nhu trong Ở hiền, Dần trong Một đám cưới, Thị Nở trong Chí Phèo. Ngƣời phụ nữ trong giai giai đoạn lịch sử này đƣợc tái hiện trong văn học với một số phận nghèo khổ, đáng thƣơng khiến cho ngƣời đọc không khỏi xót xa, đồng cảm … Song ta cũng khâm phục họ bởi một trái tim nhân ái, vị tha … Trong những năm đầu thể kỉ XX các nữ văn sĩ hầu nhƣ vẫn còn vắng bóng trên văn đàn.
Sáng tác của nữ văn sĩ còn dừng lại ở những con số rất khiêm tốn. Một trong những nguyên nhân cắt nghĩa hiện tƣợng này là dƣới chế độ phong kiến hà khắc, ngƣời phụ nữ không thể có điều kiện tham gia lao động sáng tạo nghệ thuật. Những quy định ngặt nghèo theo quan niệm đạo đức Nho giáo đã ràng buộc ngƣời phụ nữ với bổn phận gia đình. Nhà thơ Anh Thơ từng tâm sự: “Từ bé, bố tôi đã cấm tôi làm thơ.
Theo cách nghĩ của bố tôi, con gái có một chút tài thì mệnh thƣờng bạc, vì thế ông đã tìm mọi cách để ngăn cản” (Anh Thơ, Từ bến sông Thƣơng tới bến Đồng Nai, Tạp chí Văn học số 7/ 2002). Vì thế, đƣợc giao cảm với đời, với thế giới bên ngoài càng ngày càng trở thành một niềm khao khát của ngƣời phụ nữ, nhất là đối với những ngƣời phụ nữ có thiên hƣớng sáng tạo. Tuy nhiên so với thể kỉ trƣớc thì trong những thập kỉ đầu của thế kỉ XX, ngƣời phụ nữ cũng đã phần nào có tiếng nói trên văn đàn, trên các diễn đàn báo chí nhƣ: Nữ giới chung, Phụ nữ thời đàm, Phụ nữ Tân văn … Ngay từ những năm hai mƣơi, các bài viết Văn 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com học với nữ tính, Phụ nữ đối với văn học, Nền văn học của phụ nữ Việt Nam … Trên tờ Phụ nữ tân văn đã lên tiếng đấu tranh cho sự bình quyền của giới nữ trong văn học. Thời kì này tiếng nói của các nhà văn nữ đối với văn học chủ yếu là ở lĩnh vực thơ ca.
Còn trong văn xuôi nói chung và truyện ngắn nói riêng thì sự hiện diện của các nhà văn nữ còn quá ít ỏi và chƣa thực sự có tiếng vang. Tuy nhiên cũng phải kể đến các tên tuổi nhƣ Anh Thơ, Đạm Phƣơng Nữ Sử và Mộng Sơn, các chị đƣợc xem là những ngƣời có công đầu cho mảng sáng tác văn xuôi của phụ nữ thời kì trƣớc cách mạng tháng tám. Trong sáng tác của các chị chủ yếu là bật lên tiếng nói đấu tranh cho sự bình đẳng giới ở góc độ của ngƣời phụ nữ với những thấu hiểu và cảm thông. Dù sáng tác của các nhà văn nữ thời kì này còn quá nhiều khiêm tốn nhƣng có ý nghĩa quan trọng và là tiền đề cho sự phát triển của văn xuôi nữ sau này.
Người phụ nữ trong văn học từ 1945 đến 1975 Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc. Cùng với sự thay đổi của lịch sử, và sự đi lên của đất nƣớc, cách nhìn nhận, mô tả về con ngƣời của các nhà văn thời kì này có sự chuyển biến rõ rệt. Hình tƣợng ngƣời phụ nữ không còn là những nhân vật chịu nhiều bất hạnh vì bị xã hội cũ vùi dập, không còn là những ngƣời phụ nữ “nổi loạn” đòi bình đẳng nhƣ trong các tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn nữa. Con ngƣời Việt Nam thời kì này là “con ngƣời mới”, “con ngƣời cộng đồng” gắn liền với cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
Vì vậy các nhân vật nữ đều đƣợc xây dựng theo cảm quan: con ngƣời cộng đồng. Họ là những “o du kích nhỏ gƣơng cao súng", những "ngƣời mẹ cầm súng", những "ngƣời con gái Việt Nam". Trong hoàn cảnh 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc (1945 – 1975) có thể nói âm hƣởng chính của văn học là giọng điệu hào sảng, giàu tính chiến đấu đƣợc viết ra từ cảm hững ngợi ca, cảm hững lãng mạn cách mạng, văn học trở thành tấm gƣơng phải chiếu dấu ấn của cả một thời kì đấu tranh anh dũng giành độc lập của cả dân tộc. Và tất cả con ngƣời của thời cuộc chiến tranh đều nhìn nhận mọi việc từ góc độ chính trị.
Con ngƣời nói chung cũng nhƣ ngƣời phụ nữ nói riêng chƣa thực sự trở thành nhân vật trung tâm của tác phẩm. Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, Mùa lạc của Nguyễn Khải, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Đình Thi … là những tác phẩm tiêu biểu của thời kì này. Với Rừng xà nu, ta bắt 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com gặp Mai, Dít là những ngƣời phụ nữ tiêu biểu của núi rừng Tây Nguyên, của miền Nam, của cả nƣớc trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Đến với tác phẩm Người mẹ cầm súng, ta không khỏi ngỡ ngàng, khâm phục đức hi sinh, lòng bao dung, quả cảm của những ngƣời mẹ cầm sung nhƣ chị Út Tịch … Tất cả đều là những ngƣời con kiên trung của Tổ quốc, làm rạng danh cho đất Việt anh hùng… Có thể nói trong giai đoạn lịch sử này của dân tộc, đội ngũ các nhà văn nữ đã có mặt ở nhiều nơi trên suốt dọc dài đất nƣớc để ghi lại một cách chân thực bức tranh của đời sống trong những năm chiến tranh.
Để có đƣợc những sáng tác ghi dấu ấn của cả một thời kì các nhà văn đã phải trả bằng máu. Nhà văn nữ Dƣơng Thị Xuân Quý vĩnh viễn nằm lại trên mảnh đất Duy Xuyên. Những nỗ lực sáng tạo của các nhà văn đã đƣợc ghi nhận bằng những tác phẩm đƣợc đánh giá tốt. Tiểu thuyết Giận nhau (1945) của Mộng Sơn đạt giải thƣởng văn nghệ do Hội liên hiệp phụ nữ.
Cái hom giỏ (1959) của Vũ Thị Thƣờng – cây bút tiêu biểu về đề tài nông thôn miền Bắc trong những năm 60 – đạt giải cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ. Chiếc nơ đỏ của Bích Thuận nhận đƣợc giải ba cuộc thi Báo văn nghệ 1968. Nhiều nhà văn nữ đã trƣởng thành nhanh chóng từ các phong trào sáng tác, từ những đợt đi thực tế ở chiến trƣờng, ở nông thôn, nhà lá. Đội ngũ các nhà văn nữ thời kì 1945 – 1975 đã có những đóng góp nhất định cho nền văn xuôi chống Mĩ nói chung và cho thể loại truyện ngắn nói riêng ở thời kì này.
Vốn sống đƣợc mở rộng từ những trải nghiệm qua những lần đi thực tế trên các công trƣờng, nhà máy, xí nghiệp đến chiến trƣờng, đề tài sáng tác trở nên phong phú. Đối tƣợng họ quan tâm nhiều đến vẫn là những ngƣời phụ nữ, những ngƣời vợ, ngƣời mẹ, những nữ chiến sĩ, những cô gái giao liên, thanh niên xung phong với những tâm tƣ và việc làm cụ thể. Trên những trang viết của các chị luôn hiện lên hình ảnh của những cô gái giao liên chịu đựng gian khổ trong những điều kiện khắc nghiệt hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ (tập truyện Hoa rừng của Dƣơng Thị Xuân Quý), là sự đổi đời của những cô gái giàu ý chí và nghị lực cùng với những chuyển biến trong tình cảm và lẽ sống. Sao Mai, Ở Thành phố bờ biển của Nguyễn Thị Nhƣ Trang viết về những ngƣời phụ nữ giỏi việc nƣớc đảm việc nhà, hay trong Những người thân yêu của Nguyễn Thị Cẩm Thạch … Qua sáng tác của mình, các chị đã tạo dựng đƣợc những gƣơng mặt nữ của lớp nhà văn chống Pháp và chống Mĩ.
Nửa sau thế kỉ XX, nhất là 24 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com từ những năm 60 thì các nhà văn nữ đã trở thành một lực lƣợng, một đội ngũ có chỗ đứng trên văn đàn. Một lực lƣợng chƣa thể nói là thực sự đông đảo nhƣng rất có ý nghĩa ở thời điểm đó. Để rồi, cùng với khoảng thời gian mƣời năm sau chiến tranh – giai đoạn tiền đề cho thời kì đổi mới – là sự bùng nổ về số lƣợng tác giả, tác phẩm, sự thay đổi về chất khiến cho truyện ngắn nữ mang những sắc thái mới.