CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở nghiên cứu 1. Tính cấp thiết của nghiên cứu Công nghiệp công nghệ cao đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Các doanh nghiệp trong lĩnh vực này luôn đi tiên phong trong hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới sáng tạo, từ đó lan tỏa sang các ngành khác, tạo đà cho toàn nền kinh tế tăng trưởng.
Tuy nhiên, để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp công nghiệp công nghệ cao luôn phải cải thiện năng lực đổi mới, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh. Nhưng ở Việt Nam, trong giai đoạn hiện nay, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, năng lực đổi mới của các doanh nghiệp trong lĩnh vực này còn rất hạn chế. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB): “Việt Nam luôn muốn tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu nhưng năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp còn non trẻ, manh mún, chưa có nhiều bước đột phá” (World Bank, 2016, trang 1). Do đó muốn nâng cao năng lực đổi mới cần phải nhận diện những nhân tố tác động đến nó.
Điều này sẽ trở nên rất hữu ích cho doanh nghiệp công nghệ cao cả nước nói chung và đặc biệt quan trọng đối với các tỉnh trọng điểm miền Nam Việt Nam nói riêng như thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Vũng Tàu, Đồng Nai, vì đây là nơi hội tụ nhiều doanh nhiệp công nghệ cao và đang triển khai các dự án công nghệ lớn của cả nước: dự án xây dựng công nghiệp vi mạch bán dẫn phía Nam đến năm 2020, các nhóm dự án về năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, cơ khí chính xác, tự động hóa tại Bình Dương, Vũng Tàu… (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2017). Bên cạnh đó, năng lực đổi mới cũng là một vấn đề nghiên cứu mà khoa học thế giới và trong nước rất quan tâm. Bằng chứng là trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về năng lực đổi mới trong lĩnh vực công nghệ cao. Tuy nhiên, ngoài giá trị học thuật mang lại, các nghiên cứu này cũng tồn tại nhiều khe hổng lý thuyết.
Các khe hổng liên quan đến việc khám phá các nhân tố tác động đến năng lực đổi mới, những tranh luận về xây dựng thang đo cho năng lực đổi mới hoặc khe hổng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 xuất phát từ thang đo của các nhân tố tác động đến đăng lực đổi mới chưa hoàn chỉnh… tất cả đều tạo nên sự đa dạng nhưng còn nhiều bỏ ngõ trong lý thuyết khoa học (Tham khảo chi tiết: mục 1.1 - bối cảnh lý thuyết, trang 2). Hơn thế nữa, ở Việt Nam có rất ít các công trình nghiên cứu định lượng đề cập trực tiếp đến các nhân tố tác động đến năng lực đổi mới, đa phần là nghiên cứu định tính dưới dạng phân tích thực trạng, đề xuất giải pháp, các bài báo cáo và bài viết học hỏi kinh nghiệm xây dựng năng lực đổi mới từ các quốc gia khác… Do đó, điều này đã tạo cho tác giả cơ hội để khám phá tính mới và động lực để tiến hành nghiên cứu và kiểm định mô hình năng lực đổi mới đề xuất tại thị trường Việt Nam, cụ thể là tại các tỉnh trọng điểm phía Nam. Từ những lập luận trên, tác giả xin khẳng định luận án “Nghiên cứu các nhân tố tác động đến năng lực đổi mới của doanh nghiệp công nghiệp công nghệ cao, kiểm định tại một số tỉnh trọng điểm của miền Nam Việt Nam” là một hướng đi cần thiết, vì tầm quan trọng và những đóng góp của nó cho cả khoa học lẫn thực tiễn. Bối cảnh nghiên cứu Bối cảnh nghiên cứu được phân tích ở cả hai góc độ, bối cảnh lý thuyết (bao gồm lý thuyết trong và ngoài nước) và bối cảnh thực tiễn, để có cái nhìn tổng quan về vấn đề nghiên cứu, từ đó nhận diện khe hổng, làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình và giả thuyết nghiên cứu ở các chương tiếp theo.
Bối cảnh lý thuyết Tình hình nghiên cứu trên thế giới Nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu về năng lực đổi mới và đã chứng minh tầm quan trọng của nó trong việc gia tăng năng suất, cải thiện chất lượng sản phẩm, góp phần tạo dựng năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp… Từ đó, khái niệm và mô hình nghiên cứu về năng lực đổi mới ngày càng đa dạng. Và quan trọng nhất là mối quan hệ giữa năng lực đổi mới và các nhân tố tác động đến nó lần lượt được khám phá, trong đó nổi bật có nhân tố Quản trị chất lượng toàn diện (TQM), sự học hỏi của tổ chức, hỗ trợ từ Chính phủ, mạng lưới hợp tác, năng lực hấp thụ kiến thức, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 nguồn nhân lực nội bộ,… Bên cạnh những đóng góp về giá trị học thuật, các mô hình nghiên cứu về năng lực đồi mới cũng tồn tại nhiều tranh luận, những vấn đề chưa được làm rõ, do được kiểm định tại những quốc gia với trình độ phát triển khác nhau như Mỹ, Anh, Crotia, Thỗ Nhĩ Kỳ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan… Chính những khe hổng nghiên cứu này, đã tạo điều kiện cho tác giả đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu trong luận án. Tuy nhiên không phải khe hổng nghiên cứu nào cũng phù hợp với với điều kiện phát triển của Việt Nam, vì có những nhân tố chưa được nghiên cứu phổ biến cũng như không được vận dụng rộng rãi tại doanh nghiệp công nghệ cao. Ví dụ: mối quan hệ giữa quản trị tinh giản và năng lực đổi mới (Chen và Taylor, 2009); quán tính kiến thức và động cơ đổi mới (Liao, Fei và Liu, 2008); quản trị bằng sáng chế và năng lực đổi mới công nghệ (Cao và Zhao, 2013)… Do đó nếu áp dụng sẽ khó đạt được kết quả kiểm định thành công.
Chính vì vậy, tác giả chỉ tập trung phân tích những khe hổng phù hợp với thực tiễn của doanh nghiệp công nghệ cao tại các tỉnh trọng điểm miền Nam Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Những khe hổng đó được nhận diện như phân tích dưới đây: Đối với nhân tố Quản trị chất lượng toàn điện (TQM), nếu như Tidd và cộng sự (1997) chứng minh TQM tác động tiêu cực đến năng lực đổi mới, vì mục tiêu của TQM là tối ưu hóa chi phí, trong khi chúng ta biết rằng đổi mới cần phải được tăng cường đầu tư, đặc biệt ở giai đoạn R&D. Ngược lại, một số nhà nghiên cứu khác lại thừa nhận vai trò quan trọng của TQM. Kanji (1996) giới thiệu TQM tạo ra một hệ thống tổ chức và văn hóa thúc đẩy đổi mới.
Hoặc theo Gustafson và Hundt (1995), các nguyên tắc của TQM như định hướng khách hàng, quyền lãnh đạo, cải tiến liên tục, tập trung vào chất lượng… là những nhân tố quyết định sự thành công đổi mới. Như vậy vai trò của TQM đối với năng lực đổi mới vẫn luôn là một sự tranh luận giữa các nhà nghiên cứu. Đối với nhân tố hỗ trợ từ Chính phủ, đa phần các nghiên cứu thế giới đo lường nhân tố này thông qua việc tham gia vào các dự án R&D được tài trợ bởi Chính phủ, nhưng tại những quốc gia đang phát triển như Việt Nam, nơi có nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ và nguồn lực phát triển còn khan hiếm thì liệu phép đo có thật sự hiệu quả TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 hay không, vì chỉ có các doanh nghiệp giàu tiềm năng mới đủ điều kiện tham gia vào những dự án lớn của Chính phủ hay còn gọi là hợp tác chính thức. Với khe hổng này giúp tác giả có điều kiện khám phá thêm biến quan sát mới cho thang đo gốc thông qua câu hỏi liệu vai trò của Chính phủ đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ có tồn tại dưới các hình thức hợp tác phi chính thức.
Đối với nhân tố nguồn nhân lực nội bộ, Bantel và Jackson (1989); Koroglu và Eceral (2015) nhấn mạnh đằng sau sự đổi mới thành công của một tổ chức được quản lý bởi đội ngũ nhân sự có trình độ học vấn và chuyên môn cao. Trong khi đó Dakhli và De Clercq (2004) lập luận trái ngược rằng khả năng tích lũy kinh nghiệm làm việc theo thời gian sẽ tạo nên những kỹ năng quan trọng cho cá nhân và được tổ chức đánh giá cao hơn là trình độ. Chính sự tranh luận của các nghiên cứu trên thế giới đã giúp tác giả thực hiện nghiên cứu định tính để khám phá thêm biến quan sát mới cho bộ thang đo gốc của nhân tố này và kiểm định nó tại thị trường Việt Nam. Bên cạnh những khe hổng trên, trong giai đoạn 2000-2017, các nhà khoa học trên thế giới cũng quan tâm nghiên cứu về sự tác động của các nhân tố năng lực hấp thụ kiến thức, mạng lưới hợp tác, sự học hỏi của tổ chức đối với năng lực đổi mới.
Nền kinh tế của các nước đang phát triển được đặc trưng bởi quá trình công nghiệp hóa muộn và có một nền tảng công nghiệp vẫn đang được củng cố (Williamson, 2015). Thêm nữa, doanh nghiệp vừa và nhỏ khó khăn trong việc sử dụng và khai thác nguồn lực tri thức khoa học vì trình độ nguồn nhân lực không đáp ứng nên năng lực hấp thụ bị hạn chế (Spithoven và cộng sự, 2013). Đây cũng chính là thực trạng của các doanh nghiệp công nghệ cao Việt Nam nói chung và doanh nghiệp tại các tỉnh trọng điểm miền Nam Việt Nam nói riêng khi thực hiện đổi mới. Chính vì vậy, các nhân tố này trở nên quan trọng đối với chúng ta trước bối cảnh nghiên cứu hiện nay.
Vì vậy đây là cơ hội để kiểm định chúng tại thị trường Việt Nam. Một khía cạnh nữa chưa được làm rõ, đó là luôn tồn tại một cuộc tranh luận liên quan đến làm thế nào để đo lường năng lực đổi mới một cách tốt nhất (Kanji, 1996; Tang, 1998; Prajogo và Sohal, 2003). Các chỉ số đo lường thông dụng thường TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 dựa trên số lượng bằng sáng chế đạt được, chi tiêu R&D, các dự án mới được phê duyệt… Còn trong nghiên cứu này, tác giả tiến hành nghiên cứu định tính để thống nhất thang đo phù hợp với doanh nghiệp công nghiệp công nghệ cao tại một số tỉnh trọng điểm miền Nam Việt Nam.