Mở đầu Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị 7 CHƯƠNG 2.1 Khái niệm về sự thỏa mãn Đã có rất nhiều nghiên cứu trước đây về sự thỏa mãn công việc và có khá nhiều định nghĩa về sự thỏa mãn. Để dễ dàng hình dung và hiểu rõ hơn về sự thỏa mãn, cũng như dễ dàng đối chiếu và so sánh sự giống nhau và những điểm khác biệt như thế nào giữa các định nghĩa về sự thỏa mãn, các định nghĩa về sự thỏa mãn được thiết lập tập trung vào bảng 2-1 sau: Bảng 2-1: Bảng thống kê các định nghĩa về sự thỏa mãn Nguồn/ Tác giả Năm Định nghĩa về sự thỏa mãn Bách khoa toàn thư Sự thỏa mãn công việc là sự hài lòng của Wikipedia một cá nhân đối với công việc của anh ta hay cô ta. Từ điển Oxford Advance Sự thỏa mãn là việc đáp ứng một nhu cầu Learner’s Dictionary hay mong muốn nào đó. Từ đây có thể hiểu định nghĩa này như sau: Người lao động được thỏa mãn khi họ được đáp ứng một nhu cầu hay mong muốn nào đó.
Robert Hoppock (1935, trích 1935 Ông cho rằng: Ta có thể đo lường mức độ dẫn bởi Scott và thỏa mãn bằng 2 cách như sau: (a) đo đồng sự, 1960) lường sự thỏa mãn công việc nói chung và (b) đo lường sự thỏa mãn công việc ở các khía cạnh khác nhau liên quan đến công việc. Có nghĩa là thỏa mãn công việc nói chung không phải chỉ đơn thuần là tổng cộng sự thỏa mãn của các khía cạnh khác nhau, mà sự thỏa mãn công việc nói chung 8 có thể được xem như một biến riêng. James L Price 1997 Sự thỏa mãn công việc được định nghĩa là mức độ mà nhân viên cảm nhận, có những định hướng tích cực đối với việc làm trong tổ chức. Schermerhorn (1993, được 1993 Sự thỏa mãn với công việc là sự phản ứng trích dẫn bởi Luddy, 2005) về mặt tình cảm và cảm xúc đối với các.
khía cạnh khác nhau của công việc của nhân viên, là những tình cảm theo chiều hướng tích cực mà nhân viên hướng đến công việc họ đang làm. Qua đây, khi nhân viên cảm thấy hạnh phúc vui vẻ trong công việc, có thể nói rằng anh ta hài lòng với công việc. Tác giả nhấn mạnh các nguyên nhân của sự thỏa mãn công việc bao gồm: vị trí công việc, cấp trên, đồng nghiệp, nội dung công việc, sự đãi ngộ, thăng tiến, điều kiện vật chất của môi trường làm việc, cũng như cơ cấu của tổ chức. Spector 1997 Sự thỏa mãn công việc đơn giản là việc người ta cảm thấy thích công việc của họ và các khía cạnh công việc của họ như thế nào.
Ellickson và Logsdon 2001 Sự thỏa mãn công việc được định nghĩa chung là mức độ người nhân viên yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa 9 trên sự nhận thức của người nhân viên tích cực hay tiêu cực về công việc hoặc môi trường làm việc của họ. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về sự thỏa mãn trong công việc xuất phát từ nhiều quan điểm cũng như các khía cạnh xem xét của các tác giả, nhưng nhìn chung thì thỏa mãn trong công việc là người lao động cảm thấy thoải mái vui vẻ và hài lòng với công việc của họ. Chỉ riêng về việc lý giải về sự thỏa mãn trong công việc, thì các tác giả đưa ra nhiều nguyên nhân và quan điểm khác nhau trong các vấn đề nghiên cứu của mình. Phần tiếp theo, đề tài nghiên cứu này sẽ đề cập vấn đề về các học thuyết liên quan đến nhu cầu – một trong những nguyên nhân đưa đến sự thỏa mãn trong công việc nếu các nhu cầu và đòi hỏi này được đáp ứng.2 Các học thuyết về nhu cầu 2.1 Thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow (1943) Học thuyết nhu cầu Maslow được Abraham Maslow đưa ra vào năm 1943 trong bài viết A Theory of Human Motivation.
Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản và nhu cầu bậc cao. Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố sinh học của con người như mong muốn có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ. Những nhu cầu cơ bản bắt buộc phải được đáp ứng đầy đủ nếu không họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh để có được. Nhu cầu cao: là những nhu cầu bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, hạnh phúc, được thăng tiến thành đạt, được tôn trọng và được thể hiện bản thân v.
Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầu bậc cao này. Và khi nhu cầu bậc thấp được thỏa mãn thì nhu cầu bậc cao hơn lại xuất hiện, và 10 cứ thế tăng dần. Tháp nhu cầu của Maslow được chia làm 5 cấp độ theo thứ tự tăng dần sau đây: - Cấp độ thứ nhất: Các nhu cầu căn bản nhất thuộc về sinh học - thức ăn, nước uống, nơi ở, không khí để thở, nghỉ ngơi. - Cấp độ thứ hai: Nhu cầu an toàn - cảm giác yên tâm có được sự đảm bảo về an toàn thân thể, việc làm, sức khỏe, tài sản.
- Cấp độ thứ ba: Nhu cầu xã hội – Nhu cầu được giao lưu, gặp gỡ, nhu cầu được yêu thương. - Cấp độ thứ tư: Nhu cầu được tôn trọng – Được mọi người tôn trọng, mong muốn được thành đạt, được mọi người tin tưởng, được công nhận. - Cấp độ thứ năm: Nhu cầu tự khẳng định - muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân mình, phát triển cá nhân, tự hoàn thiện. Các nhu cầu này được thỏa mãn theo thứ tự hay nhảy vượt bậc.
Nhà quản lý phải biết nhân viên đang ở bậc nhu cầu nào để đáp ứng đúng.2 Thuyết ERG của Alderfer (1969) Giống thuyết Maslow nhưng chỉ còn 3 bậc nhu cầu: nhu cầu tồn tại, nhu cầu liên đới, nhu cầu phát triển, một mặt Alderfer không chỉ rút gọn lý thuyết nhu cầu của maslow từ 5 bậc nhu cầu còn thành 3 bậc nhu cầu chính, mặt khác ông còn cho rằng, có thể có nhiều nhu cầu xuất hiện trong cùng một thời điểm, và có thể có sự bù đắp giữa các nhu cầu, nếu nhu cầu này không được đáp ứng, có thể bù đắp đáp ứng được bằng nhu cầu khác.3 Thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959) Thuyết hai nhân tố được đưa ra bởi Frederick Herzberg. Thuyết này chia các nhân tố làm hai loại: các nhân tố động viên và các nhân tố duy trì. - Các nhân tố động viên: gồm thành tựu, sự công nhận của người khác, bản 11 chất công việc, trách nhiệm công việc, sự thăng tiến. Khi được đáp ứng các nhân tố động viên này, thì nhân viên sẽ có sự thỏa mãn trong công việc, ngược lại họ sẽ không có sự thỏa mãn trong công việc.
- Các nhân tố duy trì gồm: chính sách công ty, sự giám sát của cấp trên, lương bổng, mối quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp, điều kiện làm việc, đời sống cá nhân, vị trí công việc và sự đảm bảo của công việc. Nếu được đáp ứng sẽ không có sự bất mãn trong công việc, ngược lại sẽ dẫn đến sự bất mãn. Trong nghiên cứu này, Herzberg đã tách biệt tương đối hai nhóm nhân tố và cho rằng chỉ có những nhân tố động viên mới có thể mang lại sự thỏa mãn cho nhân viên và nếu không làm tốt các nhân tố duy trì sẽ dẫn đến sự bất mãn của nhân viên. Nhiều người đã không đồng ý với quan điểm phân chia hai nhóm nhân tố như trên của Herberg cũng như bác bỏ việc ông cho rằng các nhân tố duy trì không mang lại sự thỏa mãn trong công việc.
Trên thực tế, các nhân tố thuộc hai nhóm trên đều có ảnh hưởng ít nhiều đến sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên.4 Thuyết công bằng của Adam (1963) Trong học thuyết J. Stacey Adams cho rằng nhân viên có xu hướng đánh giá sự công bằng bằng cách so sánh công sức họ bỏ ra so với những thứ họ nhận được cũng như so sánh tỷ lệ đó của họ với tỷ lệ đó của những đồng nghiệp trong công ty. Nếu kết quả của sự so sánh đó là sự ngang bằng nhau tức công bằng thì họ sẽ tiếp tục duy trì nỗ lực và hiệu suất làm việc của mình. Nếu thù lao nhận được vượt quá mong đợi của họ, họ sẽ có xu hướng gia tăng công sức của họ trong công việc, ngược lại nếu thù lao họ nhận được thấp hơn so với đóng góp của họ, họ sẽ có xu hướng giảm bớt nỗ lực hoặc tìm các giải pháp khác như vắng mặt trong giờ làm việc hoặc thôi việc (Pattanayak, 2005).5 Thuyết kỳ vọng của Vroom (1964) Thuyết kỳ vọng là một lý thuyết bổ sung cho lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow.
Thuyết kỳ vọng do Victor Vroom - giáo sư Trường Quản trị Kinh doanh Yale và học vị Tiến sĩ khoa học tại Trường đại học Michigan đưa ra. Ông cho rằng một cá nhân sẽ hành động theo một cách nhất định dựa trên những mong đợi về một kết quả nào đó hay sự hấp dẫn của kết quả đó với cá nhân. Thuyết kỳ vọng của V. Vroom được xây dựng dựa trên 3 nhân tố : Kỳ vọng, tính chất công cụ và hóa trị.
- Kỳ vọng: là niềm tin rằng nỗ lực sẽ dẫn đến kết quả tốt. Được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa nỗ lực và kết quả. - Tính chất công cụ: là niềm tin rằng kết quả tốt sẽ dẫn đến phần thưởng xứng đáng, được thể hiện qua mối quan hệ giữa kết quả và phần thưởng. - Hóa trị: là mức độ quan trọng của phần thưởng đối với người thực hiện công việc, được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa phần thưởng và mục tiêu cá nhân.
Thành quả của ba yếu tố này là sự động viên. Khi một nhân viên muốn thăng tiến trong công việc thì việc thăng chức có hóa trị cao đối với nhân viên đó. Nếu một nhân viên tin rằng khi mình làm việc tốt, đúng tiến độ. sẽ được mọi người đánh giá cao, nghĩa là nhân viên này có mức mong đợi cao.
Tuy nhiên, nếu nhân viên đó biết được rằng công ty sẽ đi tuyển người từ các nguồn bên ngoài để lấp vào vị trí trống hay đưa vào các vị trí quản lý chứ không đề bạt người trong công ty từ cấp dưới lên, nhân viên đó sẽ có mức phương tiện nói cách khác là tính chất công cụ thấp và sẽ khó có thể khuyến khích động viên để nhân viên này làm việc tốt hơn.