Chương 1, tác giả đã trình bày các nội dụng bao gồm: lý do của việc lựa chọn đề tài nghiên cứu, cũng như mục tiêu mà nghiên cứu này sẽ hướng đến, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu mà tác giả sẽ sử dụng. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu này cũng đã được trình bày. Bố cục của bài nghiên cứu được thiết kế năm chương của một nghiên cứu định tính kết hợp định lượng. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái quát về dịch vụ ngân hàng cá nhân 2.1 Khái quát về dịch vụ ngân hàng Dịch vụ ngân hàng là một hệ thống các hoạt động và quy trình được cung cấp bởi các tổ chức ngân hàng để đáp ứng nhu cầu tài chính của khách hàng.
Dịch vụ ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra, quản lý và chuyển đổi các tài sản tài chính trong nền kinh tế. Các dịch vụ ngân hàng phổ biến bao gồm: Tài khoản tiền gửi: Đây là dịch vụ cung cấp cho phép khách hàng gửi tiền vào tài khoản ngân hàng. Khách hàng có thể gửi tiền mặt hoặc chuyển khoản từ các tài khoản khác vào tài khoản ngân hàng của mình. Tiền trong tài khoản này có thể được rút ra bằng cách sử dụng thẻ ghi nợ hoặc yêu cầu rút tiền trực tiếp từ quầy giao dịch.
Dịch vụ vay vốn: Ngân hàng cung cấp dịch vụ cho vay tiền để giúp khách hàng đáp ứng nhu cầu tài chính hoặc đầu tư. Dịch vụ vay vốn có thể bao gồm vay mua nhà, vay mua ô tô, vay tiêu dùng và vay kinh doanh. Ngân hàng thường yêu cầu khách hàng cung cấp các tài sản đảm bảo hoặc có thu nhập ổn định để đảm bảo khả năng trả nợ. Thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ: Ngân hàng phát hành các loại thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ cho khách hàng.
Thẻ tín dụng cho phép người dùng mua sắm và thanh toán sau này, trong khi thẻ ghi nợ sử dụng tiền trong tài khoản ngân hàng của khách hàng. Thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ thường được chấp nhận rộng rãi trong các cửa hàng và trên Internet. Dịch vụ chuyển tiền: Ngân hàng cung cấp dịch vụ chuyển tiền để chuyển tiền từ một tài khoản ngân hàng đến tài khoản ngân hàng khác. Khách hàng có thể chuyển tiền trong nước hoặc quốc tế thông qua các hình thức như chuyển khoản ngân hàng, hồi phiếu và dịch vụ chuyển tiền điện tử.
Dịch vụ quản lý tài sản: Ngân hàng cung cấp dịch vụ quản lý tài sản để giúp khách hàng đầu tư và tăng giá trị tài sản của mình. Dịch vụ này có thể bao gồm quản lý quỹ đầu tư, quản lý danh mục đầu tư và tư vấn đầu tư. Dịch vụ ngân hàng trực tuyến: Ngân hàng cung cấp các dịch vụ ngân hàng trực tuyến cho phép khách hàng tiếp cận và quản lý tài khoản của mình thông qua Internet hoặc ứng dụng di động. Các dịch vụ này bao gồm xem số dư, chuyển khoản tiền, thanh toán hóa đơn và xem thông tin giao dịch.2 Khái niệm cho vay cá nhân 2.1 Khái niệm cho vay cá nhân Khách hàng cá nhân là tất cả các cá nhân có năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
Vậy nên cho vay khách hàng cá nhân là một hình thức cấp tín dụng của ngân hàng cho khách hàng là cá nhân và hộ gia đình, trong đó ngân hàng chuyển giao cho khách hàng một khoản tiền nhằm phục vụ mục đích sử dụng của khách hàng với những điều kiện nhất định được thỏa thuận trong hợp đồng trong một thời gian nhất định. Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng (Luật các tổ chức tín dụng, 2010).2 Đặc điểm khách hàng cá nhân đi vay Theo Nguyễn Minh Kiều (2009) đối tượng cho vay khách hàng cá nhân thường là quy mô khoản vay nhỏ, số lượng khách hàng nhiều và mang lại lợi nhuận cao hơn so với tín dụng doanh nghiệp, giá trị của các khoản tín dụng cá nhân không lớn. Đó là do giá trị hàng hóa, dịch vụ hay vốn cho các đầu tư mang tính chất nhỏ lẻ (hộ kinh doanh) không cao.
Mặc dù quy mô các khoản tín dụng này của ngân hàng là nhỏ những tổng quy mô lại khá lớn, lãi suất cho vay luôn cao hơn so với lãi suất cho vay doanh nghiệp nên thông thường lợi nhuận mang lại từ hoạt động này khá cao. Có chi phí lớn nhất trong danh mục tín dụng của ngân hàng: Quy mô của mỗi khoản tín dụng thường là nhỏ thậm chí đối với các khoản tín dụng tín chấp với giá trị nhỏ, không đáng kể nhưng số lượng các khoản vay lại rất lớn. Hơn nữa, việc cập nhật về các thông tin cá nhân lại khó có thể được thực hiện một cách đầy đủ và chính xác. Ngân hàng phải xử lý rất nhiều bước trong suốt quá trình cấp tín dụng từ lúc tiếp cận khách hàng, tiếp nhận hồ sơ, thẩm định các nội dung chính sách liên quan của Ngân hàng về khách hàng, giải ngân khoản tín dụng cho đến lúc trả tất toán khoản tín dụng này.
9 Chất lượng các thông tin tài chính của khách hàng vay thường không cao và không đầy đủ: Do thói quen thanh toán và nhận bằng tiền mặt trong các giao dịch cá nhân vẫn còn khá phổ biến nên việc khách hàng cá nhân kê khai ít hơn hoặc nhiều hơn so với thực tế hay việc giả mạo, kê khai khống các nguồn thu nhập trong hồ sơ vay vốn là một thực trạng khá phổ biến tại các ngân hàng thương mại. Nhu cầu vay của khách hàng cá nhân thường phụ thuộc vào chu k kinh tế, nhu cầu này tăng lên trong thời k kinh tế hưng thịnh và giảm khi chu k kinh tế suy thoái. Nguồn trả nợ chủ yếu của người đi vay có thể biến động lớn, phụ thuộc vào quá trình làm việc, kỹ năng và kinh nghiệm đối với công việc của những người này. Quy trình xét duyệt cho vay và hồ sơ khách hàng cá nhân thường đơn giản hơn so với doanh nghiệp, tổ chức.
Tư cách của khách hàng là nhân tố khó xác định song lại rất quan trọng, quyết định sự hoàn trả của khoản vay.3 Phân loại cho vay cá nhân của các ngân hàng Căn cứ vào mục đích vay Cho vay cư trú là: Các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng, cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hay hộ gia đình. Cho vay chi phí cư trú là: Các khoản cho vay tài trợ cho việc trang trải các chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí và du lịch, của cá nhân, hộ gia đình theo Nguyễn Minh Kiều (2009). Căn cứ vào phương thức cho vay Cho vay trả góp là: Hình thức cho vay trong đó khách hàng cá nhân đi vay trả nợ (gốc và lãi) cho ngân hàng một số tiền bằng nhau nhất định trong suốt thời hạn vay. Phương thức này thường áp dụng với các khoản vay có giá trị nhỏ, người đi vay ít quan tâm đến lãi suất mà chỉ quan tâm đến mục đích sử dụng của khoản vay, số tiền và kì hạn của khoản vay sao cho phù hợp với khả năng thanh toán của khách hàng.
Cho vay thông thường là: Khoản vay mà hàng tháng khách hàng cá nhân đi vay phải trả cho ngân hàng một khoản vốn gốc và tiền lãi vay, trong đó tiền lãi vay được tính theo số dư nợ thực tế. Đây là hình thức cho vay chủ yếu hiện nay của các NHTM. Cho vay tuần hoàn là: Các khoản cho vay mà ngân hàng cho phép cho khách hàng cá nhân đi vay sử dụng các loại thẻ tín dụng, các loại thẻ ATM, thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai. Theo phương thức này thì ngân hàng sẽ cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng 10 trong một khoảng thời gian nhất định, trong khoảng thời gian này khách hàng có quyền vay và trả nợ nhiều lần theo Nguyễn Xuân Lãn, Phạm Thị Lan Hương và Đường Thị Liên Hà (2011).
Căn cứ vào thời hạn khoản vay Theo tiêu chí này ngân hàng có thể quản lý tốt hơn về mặt thời gian của các khoản vay như là thời gian giải ngân, thời gian thu nợ. Qua đó các ngân hàng có thể quản lý tốt khả năng thanh toán của mình. Ngắn hạn: Các khoản vay cá nhân có thời gian vay từ 12 tháng trở xuống, chủ yếu nhằm mục đích tài trợ cho các tài sản lưu động, nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của cá nhân, hộ gia đình. Ngân hàng có thể áp dụng cho vay món hay hạn mức, có hoặc không có tài sản đảm bảo.
Trung và dài hạn: Các khoản vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm được xếp vào khoản vay trung và từ 5 năm trở lên là các khoản cho vay dài hạn. Căn cứ vào hình thức bảo đảm Cho vay có tài sản bảo đảm: Nghĩa vụ trả nợ của khách hàng cá nhân được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp của người đi vay hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba. Cho vay không có tài sản bảo đảm: Ngân hàng căn cứ vào uy tín của khách hàng hoặc được bảo đảm bằng uy tín của bên thứ ba và các nhân tố liên quan để cấp quyết định cho vay. Căn cứ vào nguồn gốc khoản vay Cho vay trực tiếp: Khách hàng cá nhân và ngân hàng trực tiếp đàm phán, ký kết hợp đồng tín dụng để nhận tiền vay từ ngân hàng hoặc chuyển khoản vào các doanh nghiệp mà họ sẽ mua hàng hóa, dịch vụ.
Hình thức này ngân hàng trực tiếp thẩm định khách hàng và chịu mọi tổn thất khi có rủi ro xảy ra. Cho vay gián tiếp: Ngân hàng cho khách hàng cá nhân vay thông qua các tổ chức trung gian theo Nguyễn Kim Nam và Trần Thị Tuyết Vân (2015).2 Các lý thuyết liên quan 2.1 Lý thuyết hành động nguyên căn của Fishbein và Ajzen (1975) Lý thuyết hành động căn nguyên (TRA) được phát triển bởi Fishbein và Ajzen (1975). Theo mô hình TRA thì hành vi cụ thể của một người được quyết định bởi ý định 11 thực hiện hành vi đó.