CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.Những vấn đề cơ bản về khả năng sinh lời của doanh nghiệp 1.Khái niệm Mục tiêu của hàng đầu của doanh nghiệp luôn là tối ưu hóa lợi nhuận dạt được. Các doanh nghiệp luôn cố gắng tìm mọi cách, khai thác triệt để điều kiện vất chất và kỹ thuật để giúp doanh nghiệp đạt được mức lợi nhuận cao nhất. Lợi nhuận của doanh nghiệp chính là khoản doanh thu sau khi đã trừ hết các khoản chi và thuế phải nộp cho doanh nghiệp. Công thức : Lợi nhuận sau thuế = Doanh thu- chi phí- thuế Khả năng sinh lời là khả năng tạo ra lợi nhuận của một doanh nghiệp trong thời gian dài, là mức lợi nhuận tạo ra được khi bỏ ra một đơn vị chi phí.
Chỉ tiêu này càng cao thì càng phản ánh khả năng sinh lời của doanh nghiệp càng càng cao từ đó đánh giá được hiệu quả của hoạt động kinh doanh càng tốt. Bởi vì hiệu quả hoạt động kinh doanh có quan hệ mật thiết với khả năng sinh lời. Khả năng sinh lời là biểu hiện cao nhất của hiệu quả hoạt động kinh doanh. Theo Malik ( 2011) cho răng khả năng sinh lời là một trong những thước đo, mục tiêu quan trọng nhất của quản lý tài chính.
Tối đa hóa thu nhập thu về cho chủ sở hữu và tỷ suất sinh lời là yếu tố quan trọng. Nếu lợi nhuận là một con số tuyệt đối thì khả năng sinh lời là số tương đối và quyết định sự thành bại của doanh nghiệp. Nhận ra được tầm ảnh hưởng của khả năng sinh lời sẽ giúp các nhà quản lý có thể đưa ra những chiến lược rõ ràng để đạt được mục tiêu. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp Khả năng sinh lời của doanh nghiệp được đánh giá dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau như khả năng sinh lời hoạt động, khả năng sinh lời kinh tế và khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu.
Khả năng sinh lời trên doanh thu (ROS) Đánh giá khả năng sinh lời doanh thu là xem xét lợi nhuận trong mối quan hệ với doanh thu. Tỷ suất doanh thu thể hiện trong một trăm đồng doanh thu mà doanh nghiệp thực hiện trong kỳ có bao nhiêu lợi nhuận. Chỉ tiêu này được xác định như sau: 4 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 Tỷ suất lợi nhuận doanh thu= x 100 𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 Lợi nhuận được xác định trên công thức có thể là lợi nhuận gộp, lợi nhuận thuần từ hoạt động tiêu thụ sản phẩm hàng hóa và cung cấp dịch vụ, lợi nhuận trước thuế. Chi tiêu doanh thu có thể là doanh thu thuần, doanh thu từ hoạt động kinh doanh ( bao gồm doanh thu thuần và doanh thu hoạt động tài chính) hoặc tổng doanh thu và thu nhập khác của doanh nghiệp.
Lựa chọn chỉ tiêu nào phụ thuộc vào mục đích đánh giá khác nhau của doanh nghiệp. Tỷ suất sinh lời doanh thu có thể đo lường, xác định được hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, nếu thu về được một tỷ suất dương thì cho thấy kinh doanh của doanh nghiệp đang có lãi và nếu âm thì ngược lại. Chỉ tiêu này cần được so sánh với bình quân doanh nghiệp trong ngành để có cái nhìn tổng quan và chính xác hơn. Ngoài ra, tỷ suất lợi nhuận doanh thu phản ánh công tác quản lý các loại chi phí của doanh nghiệp, tỷ suất này càng lớn thì thấy quản lý chi phí càng tốt nhưng với mức độ phù hợp với thực trạng của doanh nghiệp, ngành kinh doanh.
Khả năng sinh lời tổng tài sản(ROA) (Giáo trình Phân tích tài chính doanh nghiệp Học viện Ngân hàng) Khả năng sinh lời tổng tài sản phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận và tổng tài sản hiện có của doanh nghiệp và được xác định bằng: 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản = x100 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản phản ánh cứ một trăm đồng tài sản hiện có trong doanh nghiệp mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ suất này giúp doanh nghiệp đánh giá được hiệu quả sử dụng tài sản Lợi nhuận sử dụng trên tử số có thể sử dụng các chỉ tiêu: lợi nhuận kế toán trước hoặc sau thuế; lợi nhuận kế toán trước và chi phí lãi vay; lợi nhuận kế toán sau thuế và chi phí lãi vay sau thuế. Khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu(ROE) Khả năng sinh lợi vốn chủ sở hữu thể hiện mối quan hệ giữa lợi nhuận với phần vốn của chủ doanh nghiệp và được xác định 5 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn sở hữu= x100 𝑉ố𝑛 𝑠ở ℎữ𝑢 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 Lợi nhuận trong công thức có thể sử dụng lợi nhuận trước thuế hoặc lợi nhuận sau thuế, tuy nhiên lợi nhuận sau thuế được ưa dùng hơn. Chỉ tiêu này nói lên với một trăm đồng vốn chủ sở hữu đem đầu tư mang lại bao nhiêu lợi nhuận và đây là chỉ tiêu sau cùng của hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
ROE càng lớn thì cho thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt và ngược lại. ROE là một chỉ tiêu mà doanh nghiệp, cổ động quan tâm đặc biệt, là cơ sở để đánh giá dự án, doanh nghiệp và quyết định nên đầu tư hay không. Theo Alarusi (2018), ROE là chỉ tiêu phổ biến để đo lường mức độ sinh lời của doanh nghiệp, việc phân tích chỉ tiêu này quan trọng trong việc xác định mục tiêu của người đứng đầu doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận hay tối đa hóa quy mô. Các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
Cơ cấu vốn Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, khái niệm về vốn, quan niệm về vốn cũng được mở rộng mỗi ngày. Theo quan điểm của K.Mark: Vốn là tư bản, mà tư bản được hiểu là giá trị mang lại giá trị thặng dư. Vốn là toàn bộ giá trị vật chất được doanh nghiệp đầu tư để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Vốn được biểu diễn dưới dạng như tiền mặt, tài sản, giấy tờ có giá,.
Cơ cấu vốn chính là tỷ trọng các nguồn vốn , cơ cấu vốn cho biết tỷ trọng các loại vốn trên tổng nguồn vốn được sử dụng vào hoạt động kinh doanh; biết được mối quan hệ giữa vốn chủ sở hữu và vốn đi vay để thấy được những rủi ro, những tác động tiêu cực và tích cực của các chiến lược về vốn của ban lãnh đạo doanh nghiệp. Về mặt pháp lý, một doanh nghiệp muốn thành lập và đăng ký thì cần phải có vốn. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn là giúp việc hoạt động của doanh nghiệp liên tục, không bị gián đoạn, trì trệ, đảm bảo được thanh toán đối với khách hàng, những khoản nợ đến ngày trả lãi. Nếu không đảm bảo được nguồn vốn, doanh nghiệp phá sản là một điều không thể tránh khỏi.
Vốn trở thành một yêu cầu cấp bách đối với doanh nghiệp khi doanh nghiệp muốn đổi mới chiến lược, thanh lọc bộ máy, 6 quảng bá sản phẩm, đầu tư cơ sở vật chất. Một doanh nghiệp có nguồn vốn đều đặn, chất lượng luôn được đánh giá tốt hơn trên hầu như mọi phương diện đánh giá. Sinh viên chọn nhân tố “ cơ cấu vốn” vì một tỉ lệ nợ hợp lý giúp doanh nghiệp phát huy hết tiềm năng cũng như có thể tiết kiệm được một khoản thuế thu nhập doanh nghiệp đáng kể từ lá chắn thuế. Từ đấy, khả năng sinh lời của doanh nghiệp chắc chắn cũng sẽ bị ảnh hưởng.
Dựa vào tính chất ngành nghề, quy mô doanh nghiệp và năng lực hoạt động của bản thân doanh nghiệp, các nhà quản lý lựa chọn hệ số nợ phù hợp. Nghiên cứu Agiomirgianakis và công sự (2016), Alghusin(2015) chỉ ra mối quan hệ ngược chiều giữa hệ số nợ và khả năng sinh lời 1. Quy mô doanh nghiệp Quy mô doanh nghiệp được đánh giá dựa trên: số lượng nhân viên của doanh nghiệp, kích thước doanh nghiệp, doanh thu, vốn mà doanh nghiệp bỏ ra. Quy mô doanh nghiệp được chia thành 3 loại: quy mô doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ, vừa và lớn dựa trên tiêu chí về số lượng nhân viên, tổng nguồn vốn, tổng doanh thu.
Doanh nghiệp hoạt động với mục tiêu tối đa lợi nhuận, với quy mô doanh nghiệp lớn hơn đồng nghĩa với việc số người tham giam nguồn vốn bỏ ra cao hơn. Sinh viên lựa chọn biến quy mô doanh nghiệp, bởi lẽ doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ có thể đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh tốt hơn, phân tán rủi ro. Doanh nghiệp có uy tín lớn sẽ giúp tiếp cận được nguồn vốn vay với chi phí thấp hơn. Từ những lý do này sẽ giúp khả năng sinh lời của doanh nghiệp được cải thiện.
Theo công trình nghiên cứu của Malik(2011) và Algusin(2015) cho rằng lợi thế từ quy mô càng lớn thì khả năng sinh lời càng cao. Ngược lại với nhận định trên, trong bài nghiên cứu của Goddard (2015) cho rằng ở một mức giới hạn nào đấy sẽ không còn thấy những hiệu quả từ quy mô và nó sẽ không tác động đến lợi nhuận 1. Khả năng thanh toán Khả năng thanh toán là một chỉ tiêu tài chính quan trọng của doanh nghiệp, chỉ số này dùng để đo lường khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp. Khả năng thanh toán là khả năng đáp ứng nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp.
Khả năng thanh toán hợp lý có thể thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp đồng thời có thể đảm bảo uy tín cũng như rủi ro của doanh nghiệp. Hệ số khả năng thanh toán cao hay thấp đều có 7 ưu nhược điểm. Tỷ số quá cao sẽ phản ánh tài sản doanh nghiệp đang quá dư thừa, tốn nhiều chi phí quản lý nhưng có thể đảm bảo tốt cho việc thanh toán nợ đối với bên chủ nợ, khách hàng và sẽ ảnh hưởng đến uy tín và khả năng sinh lời. Brag(2005) chỉ ra được khả năng thanh toán và khả năng sinh lời có mối quan hệ tiêu cực.
Blatt(2001) cũng đưa ra kết luận tương tự tới Renato(2010) lại đưa ra được một kết quả khác biệt, theo ông thì chỉ tiêu này có tác động cùng chiều với lợi nhuận của công ty. Tăng trưởng doanh thu Doanh thu càng tăng thì chứng tỏ lợi nhuận doanh nghiệp càng tăng. Đánh giá mức độ tăng trưởng doanh thu giúp nhà đầu tư thấy được hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Mức tăng trưởng của doanh nghiệp phản ánh dưới dạng lợi nhuận, doanh thu tăng, tài sản.
Doanh thu tốt, tài sản nhiều có khả năng tạo lợi nhiều tốt hơn. Trong khi Yazdanfar cho rằng nhiều tài sản nắm trong tay hơn sẽ giúp doanh nghiệp có mức sinh lời cao hơn thì Glancey(1998) lại đưa ra một nhận định ngược chiều.