Mở đầu: Trình bày tổng quan về khoá luận, đưa ra tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu của Khoá luận. Chương 2: Tổng quan về giá cổ phiếu và các nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu: Đưa ra các cơ sở lý luận, lý thuyết về giá cổ phiếu và các nhân tố tác động đến giá cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu: Theo các cơ sở các lý thuyết, trình bày cụ thể các bước tiến hành nghiên cứu đề tài trong thực tiễn. Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Nêu ra thực trạng giá của cổ phiếu, thực trạng các tác động của các nhân tố đến giá cổ phiếu.
Chương 5: Kết luận và một số kiến nghị: Qua kết quả nghiên cứu đưa ra ý kiến để nhận biết rủi ro, phương hướng khắc phục để các nhà đầu tư và doanh nghiệp đưa ra những quyết định đúng đắn nhất. TỔNG QUAN VỀ GIÁ CỔ PHIẾU VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU 2.1 Tổng quan về giá cổ phiếu 2. Khái niệm cổ phiếu thường Theo Khoản 1- Điều 121 - Luật doanh nghiệp 2020 cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. Nội dung của cổ phiếu bao gồm: Tên, mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính của công ty; Số lượng cổ phần và loại cổ phần; Mệnh giá mỗi cổ phần và tổng mệnh giá số cổ phần ghi trên cổ phiếu; Họ, tên, địa chỉ liên lạc, quốc tịch, số giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với cổ đông là cá nhân; Tên, mã số doanh nghiệp hoặc số giấy tờ pháp lý của tổ chức, địa chỉ trụ sở chính đối với cổ đông là tổ chức; Chữ ký của người đại diện theo pháp luật của công ty; Số đăng ký tại sổ đăng ký cổ đông của công ty và ngày phát hành cổ phiếu.
Cổ phiếu thường (Common stocks) hay còn được gọi là cổ phiếu phổ thông. Đây là loại cổ phiếu phổ biến nhất của một công ty cổ phần. Cổ phiếu thường là bằng chứng xác nhận quyền của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần thường của tổ chức phát hành. Cổ phiếu thường có một số đặc trưng cơ bản như: Cổ phiếu thường không có thời gian hoàn trả vốn gốc.
Hơn nữa cổ tức chi trả cho cổ đông thường phụ thuộc vào kết quả kinh doanh và chính sách của công ty cổ phần. Ngoài ra, cổ đông thường có các quyền trong công ty bao gồm quyền quản lý, quyền đối với tài sản của công ty, quyền chuyển nhượng cổ phần, quyền được ưu tiên mua cổ phần. Mặt khác, cổ đông thường phải gánh chịu những rủi ro mà công ty gặp phải tương ứng với phần vốn góp và chịu trách nhiệm đối với khoản nợ trong giới hạn phần vốn góp Các công ty cổ phần có thể huy động tăng vốn bằng cách phát hành cổ phiếu thường theo ba cách: Thứ nhất, phát hành cổ phiếu mới với việc dành quyền ưu tiên mua cho các cổ đông hiện hành. Thứ hai, phát hành cổ phiếu mới bằng việc chào bán cổ phiếu cho người thứ ba.
Đây là những người có quan hệ mật thiết với công ty như nhà cung cấp, khách hàng, nhà quản lý.Cuối cùng, là phát hành rộng rãi ra công chúng. 4 Thư viện ĐH Thăng Long 2. Giá cổ phiếu thường Mệnh giá cổ phiếu thường hay còn được gọi là giá trị danh nghĩa của cổ phiếu. Mệnh giá cổ phiếu thường là giá trị mà công ty cổ phần phát hành ấn định cho tờ cổ phiếu và được ghi rõ mệnh giá trên tờ cổ phiếu đó và giá trị mệnh giá cổ phiếu không liên quan đến giá trị của tờ cổ phiếu.
Giá trị ghi sổ của cổ phiếu thường: Giá trị cổ phiếu ghi trên giá trị sổ sách kế toán phản ánh tình trạng vốn cổ phần của công ty ở một thời điểm nhất định. Giá trị nội tại: là giá trị thực của cổ phiếu ở thời điểm hiện tại. Đây là căn cứ quan trọng để nhà đầu tư quyết định đầu tư vào cổ phiếu. Để xác định giá trị thực của cổ phiếu thường, có hai phương pháp phổ biến là phương pháp chiết khấu dòng tiền (bao gồm chiết khấu dòng cổ tức và chiết khấu dòng tỉền doanh nghiệp) và phương pháp định giá so sánh (sử dụng các tỷ số chuẩn để xác định giá cổ phiếu như tỷ số P/E, tỷ số P/S, tỷ số P/BV).
Mỗi phương pháp có ưu và nhược điểm riêng, do đó tuỳ thuộc mục đích nghiên cứu và quản lý mà các phương pháp được vận dụng một cách linh hoạt. Giá trị thị trường: là giá cả của cổ phiếu thường và được quyết định bởi quy luật cung- cầu thị trường. Giá cả của cổ phiếu thường thường thay đổi theo thời gian, phụ thuộc vào các nhân tố ngoại sinh và nhân tố nội sinh. Giá trị thị trường được xác định tại thời điểm một giao dịch khớp lệnh, thời gian giao dịch được diễn ra liên tục theo quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
Giá trị thị trường của cổ phiếu chịu tác động của rất nhiều yếu tố: kỳ vọng nhà đầu tư, cung cầu, lãi suất, hiệu quả kinh doanh, lạm phát, lợi thế cạnh tranh… Giá trị thị trường của cổ phiếu bao gồm giá mở cửa, giá đóng cửa, giá trần, giá sàn và giá tham chiếu. Giá tham chiếu của cổ phiếu được xác định là giá đóng cửa của ngày giao dịch gần nhất trước đó. Khi cổ phiếu giao dịch trong phiên, giá trần là giá cao nhất được phép giao dịch và được xác định bằng giá tham thiếu x (100% + Biên độ dao động). Trong phạm vi khoá luận, tác giả sử dụng giá đóng cửa là thước đo cho giá cổ phiếu thường.
Giá đóng cửa là mức giá trên thị trường của cổ phiếu vào thời điểm đóng cửa hay kết thúc một phiên giao dịch. Như vậy, khi kết thúc một phiên giao dịch, mức giá cuối cùng được kết luận chính là giá đóng cửa. Giá này của phiên giao dịch ngày hôm trước lại chính là mức giá tham chiếu cho phiên giao dịch ngày hôm sau. Và quy trình đó sẽ được lặp lại theo chu kỳ ngày áp dụng tại từng phiên giao dịch và từng thị trường cụ thể.
Do sự lặp lại này nên sử dụng giá đóng cửa làm thước đo giá cổ phiếu sẽ có tính liên tục.2 Tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu thường Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về mối quan hệ giữa các nhân tố bên trong và bên ngoài tác động đến giá cổ phiếu thường. Các nhân tố bên trong Các nhân tố bên trong tác động đến giá cổ phiếu được phân tích trong nhiều nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm bao gồm hiệu quả tài chính, quy mô công ty, thời gian hoạt động… 2. Hiệu quả tài chính Hiệu quả tài chính được đo lường thông qua nhiều thước đo tài chính nhưng tựu trung lại có thể chia thành 3 nhóm bao gồm: Tính thanh khoản (liquidity), khả năng trả nợ (Solvency), khả năng sinh lời (Profitability). Tính thanh khoản (liquidity): là khả năng mà công ty có thể chi trả được các khoản nợ đến hạn mà không gây gián đoạn đến hoạt động kinh doanh thông thường.
Theo nguyên tắc tương thích trong tài trợ, tính thanh khoản của công ty bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố là các tài sản ngắn hạn (tài sản có khả năng chuyển đổi thành tiền nhanh, có chi phí chuyển đổi thấp và giá chuyển đổi hợp lý) và các khoản nợ ngắn hạn. Vì vậy, tính thanh khoản của công ty được đo lường bằng ba chỉ tiêu chính là khả năng thanh toán ngắn hạn (CR- current ratio), vốn lưu động ròng (net working capital) và thời gian luân chuyển vốn bằng tiền trung bình (CCC- Cash conversion cycle). Khả năng thanh toán ngắn hạn xem xét mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn của công ty. Khả năng thanh toán ngắn hạn thể hiện khả năng đảm bảo các khoản nợ ngắn hạn của công ty bằng tài sản ngắn hạn.
Khả năng thanh toán ngắn hạn cao có thể nói rằng công ty có tính thanh khoản cao. Tài sản ngắn hạn CR = Nợ ngắn hạn Vốn lưu động ròng là số lượng vốn sẵn có để mua các yếu tố đầu vào và hàng tồn kho sau khi bán các tài sản ngắn hạn và thanh toán toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn. NWC = Tài sản ngắn hạn - Nợ ngắn hạn 6 Thư viện ĐH Thăng Long Thời gian luân chuyển vốn bằng tiền trung bình là khoảng thời gian ròng kể từ khi doanh nghiệp mua hàng, bán hàng, trả nợ và thu tiền. Thời gian luân chuyển vốn bằng tiền trung bình càng ngắn thì tính thanh khoản của công ty càng cao.
CCC = ICP +ACP –APP Trong đó: ICP là thời gian quay vòng giá trị hàng lưu kho ACP là thời gian quay vòng giá trị phải thu khách hàng APP là thời gian quay vòng các khoản nợ phải trả ngắn hạn Trong nghiên cứu của tác giả sử dụng vốn lưu động ròng để đo lường tính thanh khoản. Khả năng trả nợ (Solvency): xem xét mối quan hệ giữa vốn nợ và vốn của chủ sở hữu. Khả năng trả nợ xem xét khả năng thanh toán tất cả các khoản nợ của công ty nếu công ty bán tất cả các tài sản. Khả năng trả nợ thể hiện khả năng chịu đựng rủi ro của công ty.
Khả năng trả nợ xem xét cả các nghĩa vụ nợ trong ngắn hạn và dài hạn. Khả năng trả nợ của công ty thường được đo lường bằng hai chỉ tiêu tổng nợ trên tổng tài sản (DA- Debt to asset ratio) và tổng nợ trên tổng vốn chủ sở hữu (DE- Debt to equity ratio). DA và DE cao thì khả năng trả nợ của công ty giảm, rủi ro cao và ngược lại. Tổng nợ DA = Tổng Tài sản Tổng nợ DE = Tổng vốn chủ sở hữu Trong nghiên cứu của tác giả sử dụng DA là thước đo cho khả năng trả nợ của các công ty cổ phần ngành BĐS niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Khả năng sinh lời (Profitability): Là khả năng mà công ty có thể tạo ra lợi nhuận từ các nhân tố của sản xuất như lao động, quản lý và vốn. Khả năng sinh lời của công ty phụ thuộc vào mối quan hệ giữa doanh thu và chi phí, giữa lợi nhuận và vốn đầu tư của công ty. Khi phân tích khả năng sinh lời của công ty có nhiều thước đo để đo lường.