CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Nhu cầu Nhu cầu là một thuật ngữ được các nhà khoa học nghiên cứu, định nghĩa với những góc độ khác nhau. Theo định nghĩa của tác giả A.
Kôvaliôp (1976), “Nhu cầu là sự đòi hỏi của các cá nhân và của các nhóm xã hội khác nhau muốn có những điều kiện nhất định để sống và phát triển”. [3] Philip Kotler (2013) cho rằng: “Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được.” [10] Theo Từ điển Bách khoa toàn thư định nghĩa: “Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau.” Nhu cầu của con người rất phong phú và đa dạng. Nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người ngày càng tăng lên cùng với sự phát triển của xã hội.
Nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu đều gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, sự phân phối các giá trị vật chất và tinh thần trong điều kiện xã hội đó. Nó luôn gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con người. Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy mạnh mẽ để con người hoạt động. Động cơ Động cơ là cái gì đó thúc đẩy, chỉ đạo hành vi con người, tăng cường cho con người nhiệt huyết thực hiện công việc, tăng cường tính bền bỉ cho con người hành động.
Động cơ được hiểu là cơ sở của hành động giúp chúng ta lý giải nguyên nhân của hành động của một người và tại sao họ lại làm như vậy, nghĩa 9 là chúng ta đã xác định động cơ. Chúng ta có thể hiểu, động cơ là mục đích chủ quan của hoạt động con người, thúc đẩy con người hoạt động nhằm đáp ứng các nhu cầu đặt ra. Ðó là sự sẵn sàng, quyết tâm thực hiện với nỗ lực ở mức độ cao để đạt đuợc các mục tiêu của tổ chức và nó phụ thuộc vào khả năng đạt được kết quả để thoả mãn được các nhu cầu cá nhân. Ðộng cơ là kết quả của sự tương tác giữa các cá nhân và tình huống.
Ðộng cơ có tác dụng chi phối thúc đẩy nguời ta suy nghĩ và hành động. Các cá nhân khác nhau có các động cơ khác nhau và trong các tình huống khác nhau động cơ nói chung là khác nhau. Có 3 yếu tố làm cho nhu cầu biến thành động cơ hành động là: sự mong muốn, tính hiện thực của sự mong muốn đó và hoàn cảnh môi trường xung quanh. Động lực và động lực làm việc Động lực là sự thúc đẩy bên trong mỗi con người để đáp ứng nhu cầu chưa được thỏa mãn.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của cá nhân. Theo Maier và Lawler (1973), động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện làm việc của mỗi cá nhân.[7] Kreitner (1995), cho rằng động lực lao động là một quá trình tâm lý mà nó định hướng cá nhân theo mục đích nhất định. [6] Tác giả Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm (2012) thì cho rằng: “động lực làm việc là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được mục tiêu của tổ chức” [23] Giáo trình hành vi tổ chức của Bùi Anh Tuấn, Phạm Thúy Hương (2009), đã nêu “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lưc, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [28].
Động lực cũng chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, các nhân tố này luôn thay đổi và khó nắm bắt. Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến động lực có thể chia 10 thành 3 loại như sau: Loại 1: Những yếu tố thuộc về con người như: mục tiêu cá nhân, lợi ích của con người, thái độ của cá nhân, khả năng và năng lực của cá nhân, kinh nghiệm công tác, thâm niên. Loại 2: Các nhân tố thuộc môi trường là nhân tố bên ngoài có ảnh hưởng đến người lao động như: công việc, đồng nghiệp, môi trường làm việc, văn hóa doanh nghiệp, các chính sách về nhân sự. Loại 3: Các yếu tố thuộc về nội dung bản chất công việc như: mức độ chủ động của công việc, trách nhiệm, sự phức tạp của công việc, tính ổn định của công việc, sự hấp dẫn của công việc và sự thích thú, đam mê trong công việc.
Vì vậy, động lực làm việc là một động cơ có ý thức hay vô thức khơi gợi và hướng hành động vào việc đạt được mục tiêu mong đợi. Nó bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố. Các yếu tố này thường xuyên thay đổi, đa dạng và phức tạp, đòi hỏi người quản trị phải biết nắm bắt kịp thời những yếu tố đó. Từ đó, định hướng động lực của mỗi người đi đúng hướng, đạt mục tiêu đề ra.
Tạo động lực làm việc được coi là một trong những chức năng quan trọng của nhà quản trị, là yếu tố mang tính quyết định sự thành bại của tổ chức và doanh nghiệp. Như vậy, mục tiêu của nhà quản trị là phải làm sao tạo ra được động lực làm việc để người lao động có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho đơn vị. TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC Động lực làm việc đóng vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất lao động khi các điều kiện đầu vào khác không đổi. Động lực lao động như một sức mạnh vô hình từ bên trong con người thúc đẩy họ lao động hăng say hơn.
Tuy nhiên, động lực lao động chỉ là nguồn gốc để tăng năng suất lao động chứ không phải là điều kiện để tăng năng suất lao động bởi vì điều này còn phụ thuộc vào trình độ, kỹ năng của người lao động và sự hiện đại của công cụ, dụng cụ lao động, máy móc, trang thiết bị và dây chuyền sản xuất. Bản chất của động lực làm việc do xuất phát từ nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu của con người. Có động lực mọi người sẽ hăng hái làm việc, gắn bó và cống 11 hiến cho tổ chức. Do đó nhiệm vụ của nhà quản lý là khơi nguồn động lực và xây dựng một hệ thống động viên có hiệu quả nhằm khai thác và sử dụng năng lực cá nhân tốt nhất; khai thác khả năng tiền ẩn của cá nhân; xác định khả năng và tăng tầm hiểu biết của nhân viên; làm việc hăng say, muốn làm việc hơn; tạo cơ hội cho nhân viên khẳng định mình.
Đây cũng chính là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức và doanh nghiệp. Theo tác giả Lê Thanh Hà (2010), cho rằng: Tạo động lực làm việc là tổng hợp các biện pháp và cách hành xử của tổ chức, nhà quản lý để tạo ra sự khát khao, tự nguyện của người lao động buộc họ phải nỗ lực, cố gắng phấn đấu nhằm đạt được các mục tiêu mà tổ chức đề ra. Các biện pháp được đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích về tài chính, phi tài chính, cách hành xử của tổ chức được thể hiện ở cách tổ chức đối xử với người lao động.[19] Tác giả Bùi Anh Tuấn (2009), tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động tới người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong lao động. [28] Nhu cầu Nhu không Giảm Sự Các Hành cầu được căng căng động vi tìm được thỏa thẳn thẳng cơ kiếm thỏa mãn g mãn Hình 1.1: Quá trình tạo động lực (Nguồn: Giáo trình Hành vi tổ chức PGS.TS Bùi Anh Tuấn, TS.
Phạm Thúy Hương (2009), tr.87) Theo tác giả, tạo động lực làm việc chính là những chính sách, những biện pháp mà các nhà quản lý tạo ra dựa trên nhu cầu của người lao động, tác động tới nhu cầu người lao động nhằm làm cho họ có động lực làm việc, kích thích, thúc đẩy để họ hài lòng hơn với công việc và gắn bó với tổ chức. Mục đích của tạo động lực làm việc là làm tăng năng suất, chất lượng công việc của người lao 12 động để nâng cao hiệu quả hoạt động cho doanh nghiệp. MỘT SỐ HỌC THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 1. Học thuyết nhu cầu của Maslow Abraham Maslow là nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ.
Vào năm 1943, ông đã nghiên cứu và cho rằng, hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu của họ. Nhu cầu của con người rất đa dạng và phong phú được sắp xếp theo thứ tự từ thấp tới cao. Tháp nhu cầu của Maslow có 5 bậc hình kim tự tháp. Những nhu cầu cơ bản nằm ở phía đáy tháp phải được thỏa mãn trước khi đến với các nhu cầu cao hơn.
Nhu cầu được ông chia thành 5 bậc khác nhau theo thứ tự từ nhu cầu bậc thấp đến nhu cầu bậc cao, [8] được mô tả như sau: Nguồn: PGS. Lê Thanh Hà, Giáo trình Quản trị nhân lực tập II (2009) Hình 1. Tháp nhu cầu của Abraham Maslow Theo Maslow, nhu cầu của con người 05 bậc từ thấp đến cao bao gồm: Nhu cầu sinh lý: là những yếu tố thiết yếu để tồn tại như thức ăn, nước uống, quần áo, nhà ở, nghỉ ngơi, đi lại. và đây là bậc thấp nhất trong mô hình tháp nhu cầu của Maslow.
Trong một tổ chức, nó được thể hiện cụ thể như lương cơ bản, những vật dụng cơ bản để đảm bảo nhu cầu sống còn. Đây là nhu cầu cơ bản nhất, cấp thiết nhất trong hệ thống thứ bậc của tháp nhu cầu, nếu thiếu hụt sẽ ảnh hưởng tới sự tồn tại của con người. Khi những nhu cầu này chưa được đáp 13 ứng tới một mức độ cần thiết để duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác sẽ không tiến triển thêm. Nhu cầu về an toàn: Khi con người thỏa mãn được nhu cầu sinh lý là bậc thấp nhất trong 5 bậc nhu cầu thì họ sẽ hướng tới nhu cầu cao hơn, nhằm tạo sự chắc chắn, ổn định và yên tâm hơn.