Chương 1 trình bày lý thuyết tuân thủ thuế và các nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế của các nhà nghiên cứu trước đây. Lý thuyết về tuân thủ thuế 1. Khái niệm về sự tuân thủ thuế Theo James,S. Theo Cơ quan thuế Australia (ATO): “Tuân thủ thuế là việc doanh nghiệp đáp ứng các nghĩa vụ thuế theo quy định của luật thuế và theo quyết định của tòa án (10).
Ủy ban các vấn đề về Thuế, OECD (09/2004) định nghĩa cụ thể hơn: “Tuân thủ thuế là phạm vi mà đối tƣợng nộp thuế phải hoàn thành các nghĩa vụ thuế của mình. Tại nhiều nƣớc, đối tƣợng nộp thuế có 3 nghĩa vụ cơ bản: (1) nộp tờ khai thuế đúng hạn; (2) kê khai (báo cáo) chính xác trên tờ khai những thông tin cần thiết để xác định số tiền thuế; và (3) nộp nghĩa vụ thuế kịp thời. Các nghĩa vụ này thƣờng đƣợc coi là tuân thủ về nộp tờ khai, tuân thủ về báo cáo (kê khai), và tuân thủ về thu nộp” (9) Tuy nhiên, khái niệm về tuân thủ thuế vẫn đƣợc các nhà nghiên cứu tiếp tục tranh luận theo hƣớng nghiên cứu tính tự nguyện hay không tự nguyện chấp hành nghĩa vụ thuế. Quan điểm truyền thống của quản lý thuế chủ yếu dựa trên giả thiết rằng hầu hết DN về bản chất là không tự nguyện tuân thủ và chỉ chấp hành nghĩa vụ thuế khi có sự cƣỡng chế của CQT, hay khi bị tác động bởi lợi ích kinh tế.
Cách tiếp cận cƣỡng chế tuân thủ theo luật và cách tiếp cận kinh tế tập trung làm giảm mức độ trốn thuế chứ không nhắm vào việc tăng cƣờng sự tuân thủ thuế. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Quan điểm nghiên cứu hiện nay chuyển sang xem xét tính tự nguyện của việc chấp hành nghĩa vụ thuế: James, S., Alley, C, (1999) viết: “ Có câu hỏi đặt ra là sự “tuân thủ” có đƣợc là do hành vi tự nguyện hay bắt buộc? Nếu ngƣời nộp thuế “tuân thủ” chỉ vì sự đe dọa hoặc do các biện pháp hành chính, hoặc do cả hai, thì điều này không đƣợc cho là hoàn toàn tuân thủ ngay cả khi khoản thu từ thuế đạt đến 100% so mức phải nộp theo luật định. Vì vậy, quan điểm hiện đại cho rằng cơ quan quản lý thuế thành công khi gia tăng đƣợc sự tuân thủ tự nguyện của NNT mà không cần dùng đến các hình thức kiểm tra, thẩm tra, nhắc nhở hoặc lo sợ bị áp dụng các biện pháp hành chính. Một định nghĩa thích hợp hơn, do vậy, có thể phải bao gồm mức độ tuân thủ theo luật thuế và với CQT mà có thể đạt đƣợc ngay cả khi không cần sử dụng các biện pháp bắt buộc” (16).
Mặt khác, cần phát triển khái niệm này thêm và đƣa yếu tố thời gian vào nhƣ là một tiêu chí thể hiện sự tuân thủ tự nguyện. Một DN cuối cùng cũng thanh toán đầy đủ nghĩa vụ thuế nhƣng nếu nghĩa vụ thuế đó đƣợc thanh toán muộn thì cũng không phải sự tuân thủ hoàn toàn. Và ngay cả khi lãi suất nộp muộn đƣợc tính thì khoản thu đó cũng không phải là sự tuân thủ hoàn toàn tự nguyện. Từ đó có thể định nghĩa sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp là hành vi chấp hành nghĩa vụ thuế theo đúng mục đích của luật một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời gian (Nguyễn Thị Lệ Thúy, 2009) (6).
Tuy nhiên, khía cạnh “tự nguyện” trong định nghĩa trên đây rất giới hạn vì nó chịu tác động rất lớn bởi các nhân tố thuộc về hành vi (thuộc về tâm lý học và xã hội học). Nhƣng nó lại rất quan trọng, vì nó giúp các CQT phân biệt giữa khái niệm tuân thủ mà ít cần đến hoạt động cƣỡng chế và khái niệm tuân thủ là kết quả của sự cƣỡng chế. Việc khuyến khích ngƣời tuân thủ tự nguyện phải đi đôi với việc ngăn cản những ngƣời không có ý định tuân thủ. Hành vi không tuân thủ thuế Nộp thuế là nghĩa vụ tất yếu của DN, Ủy ban các vấn đề về thuế, OECD (2004) viết : “Nghĩa vụ cụ thể của NNT có thể khác nhau về trách nhiệm thuế và giữa các cơ quan thuế khác nhau, nhƣng có bốn loại nghĩa vụ mà NTT chắc chắn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 phải thực hiện dù ở bất kỳ nƣớc nào.
“Vấn đề tuân thủ” thực sự có liên quan đến việc thực hiện các nghĩa vụ của NNT. Bốn loại nghĩa vụ của NNT là: - Đăng ký thuế; - Nộp tờ khai và nộp các thông tin cần thiết liên quan đến thuế đúng thời hạn; - Báo cáo các thông tin đầy đủ và chính xác (kết hợp với việc lƣu giữ sổ sách); - Nộp nghĩa vụ thuế đúng hạn. Nếu NNT không thực hiện bất kỳ một trong bốn nghĩa vụ trên đây thì có thể coi là không tuân thủ. Tuy nhiên, mức độ không tuân thủ là khác nhau rõ rệt” (21).
Quản lý thu thuế của nhà nƣớc cần xem xét sự không tuân thủ dự tính và sự không tuân thủ không dự tính. Hành vi không tuân thủ không dự tính: nhiều NNT sẵn lòng hợp tác tuân thủ toàn diện nhƣng lại không thực hiện đƣợc vì họ không biết cách hoàn thành các tờ khai thuế chính xác hoặc không hiểu hết phạm vi nghĩa vụ thuế của họ hoặc họ hiểu sai luật. Những nỗ lực nhiều hơn của CQT trong việc hỗ trợ NNT trong các trƣờng hợp nhƣ vậy, chẳng hạn nhƣ việc cải thiện số lƣợng và chất lƣợng thông tin tuyên truyền hoặc giúp họ không rơi vào tình trạng không tuân thủ không dự tính, có thể sẽ thu đƣợc kết quả nhiều hơn là việc tăng cƣờng các hoạt động cƣỡng chế (16). Chính vì vậy, công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT của CQT đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tăng cƣờng sự tuân thủ thuế của các DN.
Hành vi không tuân thủ thuế dự tính bao gồm tránh thuế (avoidance) và trốn thuế (evasion): Những hành vi này bao gồm việc tạo ra các giao dịch giả tạo để trốn thuế, tìm kiếm mọi kẽ hở hợp pháp để giảm thuế, dùng những thủ đoạn và chống chế ở mọi lúc để trì hoãn và để giảm số tiền thuế phải nộp (16). Xét theo quan điểm kinh tế vĩ mô: Tránh thuế và trốn thuế có những tác động tiêu cực nhƣ nhau đối với NSNN. Vì vậy, các nhà kinh tế học thƣờng phân tích những ảnh hƣởng này một cách đồng thời, không phân biệt giữa chúng (Kirchker, E. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Xét theo cơ sở pháp lý: Việc tuân thủ thuế có thể đƣợc nhìn từ góc độ của việc tránh thuế và trốn thuế.
Cả hai hành vi này đều có những dấu hiệu pháp lý đặc trƣng, theo đó tránh thuế là nói đến những phƣơng pháp hợp lệ để làm giảm nghĩa vụ thuế còn trốn thuế lại nói đến những cách làm phạm pháp. Trong khi một số ngƣời bình luận nhìn nhận việc không tuân thủ chỉ có vấn đề trốn thuế, điều này dƣờng nhƣ chƣa nắm bắt đƣợc toàn bộ bản chất của vấn đề. Việc trốn thuế rõ ràng là một hình thức không tuân thủ. Mặc dầu vậy, nếu ngƣời nộp thuế kéo dài thời gian quá xa để giảm nghĩa vụ thuế của họ, thì điều này lại khó có thể đƣợc cho là “tuân thủ” (James, S.
Xét theo quan điểm đạo đức: Sự phân biệt giữa hai khái niệm này đối với nhiều ngƣời là không có sự khác nhau. “ Không có sự khác nhau giữa một nhà kinh doanh nhỏ hoạt động trong một nền kinh tế ngầm (vi phạm luật) với một nhà đầu tƣ lớn sử dụng những luật sƣ giỏi để tìm kiếm thiên đƣờng thuế” (Sandmo, A. Nghiên cứu theo gốc độ tâm lý hành vi của doanh nghiệp: do sự khác nhau về cơ sở pháp lý, vì vậy đối với DN thì hành vi trốn thuế và tránh thuế là hoàn toàn khác nhau và tác động đến việc lựa chọn hành vi tuân thủ thuế của họ. Trốn thuế đƣợc cho là tiêu cực hơn tránh thuế.
Khuyến thức về thuế của NNT càng tốt thì tránh thuế đƣợc nhận thức là công bằng hơn, đƣợc lựa chọn nhiều hơn. Ngƣợc lại, khuyến thức về thuế càng hẹp thì NNT có xu hƣớng lựa chọn hình thức trốn thuế nhiều hơn (Kirchker, E. Khó mà phân định rõ ràng giữa hành vi tránh thuế (avoidance) hay việc dùng luật để hạn chế đến mức tối thiểu việc nộp thuế và hành vi trốn thuế (evasion), tức là sự vi phạm pháp luật. Thêm vào đó, ngƣời ta thƣờng khó mà quyết định đƣợc liệu các biện pháp chế tài nên đƣợc áp dụng ở đâu dọc theo chuỗi liên tục của những hành vi tránh thuế và trốn thuế (25).
Các cơ quan Thuế khi nghĩ về tuân thủ thuế thƣờng chú ý đến việc tại sao một số ngƣời nộp thuế không tuân thủ mà không nghĩ ngƣợc lại là tại sao ngƣời nộp thuế lại tuân thủ. Theo chuẩn mực thì NNT thƣờng tuân thủ hơn là không tuân thủ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 và một hệ thống thuế hoạt động hiệu quả phải có đƣợc sự đồng thuận hợp tác của hầu hết NNT. Cho nên sẽ có đƣợc hiệu quả cao hơn trong việc thu thuế nếu dành sự hỗ trợ nhiều hơn cho những ngƣời nộp thuế tuân thủ hoàn thành nghĩa vụ thuế của họ so với việc dành thời gian và công sức theo đuổi thiểu số ngƣời không tuân thủ (16). Chính vì vậy, công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT của CQT đóng vai trò rất quan trọng.
Các nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế Khoa học về hành vi tuân thủ thuế là một lĩnh vực nghiên cứu mới trong vài thập niên gần đây trên thế giới và trong ba thập niên gần đây nhất, có vô số các công trình khoa học nghiên cứu về hành vi tuân thủ thuế. Khoảng đầu những năm 1970 từ những mô hình phân tích kinh tế đơn giản và sau đó đã mở rộng nhanh chóng đến lĩnh vực phân tích hành vi với những giải thích ngày càng phức tạp. Một số ngành thuế và nhiều môn học lý thuyết chuyên ngành trên thế giới đã đƣa ra hai cách tiếp cận cơ bản đến vấn đề về tuân thủ thuế. Một là phân tích sự tuân thủ dựa trên các quyết định mang tính kinh tế, theo cách dùng những khích lệ về kinh tế và cái giá của tuân thủ và không tuân thủ.
Điều này đƣợc dựa trên khái niệm hẹp của tính hợp lý kinh tế và đƣợc phát triển từ việc ứng dụng các phân tích kinh tế. Cách tiếp cận còn lại nghiên cứu tác động của những nhân tố khác dựa trên các quyết định tuân thủ, đặc biệt là chúng có liên quan đến cách cƣ xử của NNT thuế và đôi khi của CQT.